Monday, December 1, 2014

Buồn vui thời điêu linh: Thời Đốt Sách !



Buồn vui thời điêu linh: Thời Đốt Sách !
alt
Xuống đường Bài trừ Văn hóa "Đồi trụy & Phản động" trong thời điêu linh

“Nơi nào người ta đốt sách thì họ sẽ kết thúc bằng việc đốt sinh mạng con người”.

Theo Sử ký Tư Mã Thiên, sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa, thừa tướng Lý Tư đã đề nghị dẹp bỏ tự do ngôn luận để thống nhất chính kiến và tư tưởng. Lý Tư chỉ trích giới trí thức dùng ‘sự dối trá’ qua sách vở để tạo phản trong quần chúng.

Chủ trương Đốt sách, Chôn nho (Phần thư, Khanh nho) của Tần Thủy Hoàng được thực hiện từ năm 213 trước Công nguyên. Qua đó, tất cả những kinh điển từ thời Chư tử Bách gia (trừ sách Pháp gia, trường phái của Lý Tư) đều bị đốt sạch. Lý Tư còn đề nghị đốt tất cả thi, thư, sách vở, trừ những quyển được viết vào thời nhà Tần. Sách trong lĩnh vực triết lý và thi ca, trừ những sách của Bác sĩ (cố vấn nhà vua) đều bị đốt. Những nho sinh dùng sử sách để chỉ trích chính quyền đều bị hành hình. Những ai dựa vào chế độ cũ để phê phán chế độ mới sẽ bị xử tội chém ngang lưng.

Lý Tư tấu: “Thần xin rằng sử sách không phải do Tần ghi chép đều bị đem đốt. Ngoại trừ quan chức không phải là tiến sĩ thì trong thiên hạ không ai được phép cất giữ Thi, Thư, sách của Bách gia, tất cả đều phải đem đốt. Nếu dám dùng những lời ngụ ngôn trong Thi, Thư thì chém bêu đầu ở chợ. Lấy xưa mà chê nay thì giết cả họ. Quan lại thấy mà không tố cáo sẽ bị coi là đồng phạm. Nay lệnh trong ba mươi ngày mà không đem đốt, sẽ bị xăm mặt và bắt đi xây dựng trường thành”.

Năm 212 TCN, Tần Thuỷ Hoàng phát hiện ở Hàm Dương có một số nho sinh đã từng bình phẩm về mình liền hạ lệnh bắt để thẩm vấn. Các nho sinh không chịu nổi tra khảo, lại khai ra thêm một loạt người khác. Tần Thuỷ Hoàng hạ lệnh đem tất cả trên 460 nho sinh đó chôn sống ngoài thành Hàm Dương. Đốt sách, chôn Nho là hành vi được người đời sau coi là tàn bạo nhất của Tần Thủy Hoàng. Đó cũng là tội danh hàng ngàn năm sau vẫn còn ghi nhớ. Không riêng gì người Hán mà cả nhân loại lên án.

Trong thâm tâm, Tần Thủy Hoàng cũng như Lý Tư đều biết rất rõ, lệnh đốt sách không thể nào xóa sạch những tư tưởng trong đầu óc dân chúng, những cuốn sách ‘khó đốt’ nhất là nằm trong tinh thần con người. Như vậy, việc đốt sách thực tế chỉ là một thủ đoạn chứ không tạo được tác dụng triệt để trong việc xóa sạch vết tích văn hóa-chính trị như mong muốn.

Việt Nam vốn tự hào là quốc gia có hơn 4000 năm văn hiến, nhưng sách vở của người xưa để lại thì rất ít. Nguyên nhân chính là vì quân nhà Minh bên Tàu đã ra lệnh hủy hết sách vở ngay trong những ngày đầu đô hộ nước ta để dễ bề cai trị. Sau này, cuộc Cách mạng Văn hóa tại Trung Hoa từ năm 1953 đến 1966 cũng đã gây nhiều ảnh hưởng đến miền Bắc. Do đó, xét về mặt lịch sử, Việt Nam đã trải qua rất nhiều thời kỳ sách vở bị tiêu hủy cho phù hợp với những thay đổi qua các giai đoạn chính trị.

Trên thực tế, tại miền Bắc, ngay sau khi tiếp quản Hà Nội, việc kiểm duyệt sách báo, bài viết trước khi đem phổ biến ra công chúng đã được thực hiện ngay từ năm 1954. Đối với các loại sách báo đã in ra từ trước 1954 dưới thời Pháp thuộc cũng đã bị đốt. Thế cho nên, việc đốt sách tại miền Nam năm 1975 chỉ là rập khuôn của chính sách cũ năm 1954.

Hồi ký của Một người Hà Nội ghi lại sự kiện đốt sách năm 1954 khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản miền Bắc: “Chơi vơi trong Hà Nội, tôi đi tìm thầy xưa, bạn cũ, hầu hết đã đi Nam. Tôi phải học năm cuối cùng, Tú tài 2, cùng một số ‘lớp Chín hậu phương’, năm sau sẽ sáp nhập thành ‘hệ mười năm’. Số học sinh ‘lớp Chín’ này vào lớp không phải để học, mà là ‘tổ chức Hiệu đoàn’, nhận ‘chỉ thị của Thành đoàn’ rồi ‘phát động phong trào chống văn hóa nô dịch!’. Họ truy lùng… đốt sách!

Tôi đã phải nhồi nhét đầy ba bao tải, Hiệu đoàn ‘kiểm tra’, lục lọi, từ quyển vở chép thơ, nhạc, đến tiểu thuyết và sách quý, mang ‘tập trung’ tại Thư viện phố Tràng Thi, để đốt. Lửa cháy bập bùng mấy ngày, trong niềm ‘phấn khởi’, lời hô khẩu hiệu ‘quyết tâm’, và ‘phát biểu của bí thư Thành đoàn’: Tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn là… ‘cực kỳ phản động!’. Vào lớp học với những ‘phê bình, kiểm thảo… cảnh giác, lập trường”.

alt
Tại miền Nam, trong thời điêu linh ngay sau ngày 30/4/1975, việc đốt sách được thể hiện qua chiến dịch Bài trừ Văn hóa Đồi trụy-Phản động. Tự bản thân khẩu hiệu trong chiến dịch đã nêu rõ 2 mục đích: (1) về chính trị, bài trừ các luồng tư tưởng phản động chống đối chế độ và (2) về văn hóa, xóa bỏ hình thức được coi là ‘đồi trụy theo hình thức tư bản’.

Một trong những việc làm cấp thiết của chính quyền mới khi miền Nam sụp đổ là niêm phong, tịch thu sách tại các thư viện. Những tác phẩm của nhà in, nhà xuất bản và nhà sách lớn tại Sài Gòn như Khai Trí, Sống Mới, Độc Lập, Đồng Nai, Nam Cường, Trí Đăng… đều bị niêm phong và cấm lưu hành.

Đội ngũ những người cầm bút miền Nam phải nói là rất đông và bao gồm nhiều lãnh vực. Về triết học phương Tây có Lê Tôn Nghiêm, Trần Văn Toàn, Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Văn Trung, Trần Bích Lan… Triết Đông có Nguyễn Đăng Thục, Nghiêm Xuân Hồng, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Khắc Kham, Nghiêm Toản, Kim Định, Nhất Hạnh…

Phần biên khảo có Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Lê Ngọc Trụ, Lê Văn Đức, Lê Văn Lý, Trương Văn Chình, Đào Văn Tập, Phạm Thế Ngũ, Vương Hồng Sển, Thanh Lãng, Nguyễn Ngu Í, Nguyễn Văn Xuân, Lê Tuyên, Đoàn Thêm, Hoàng Văn Chí, Nguyễn Bạt Tụy, Phan Khoang, Phạm Văn Sơn, Nguyễn Thế Anh, Nguyễn Khắc Ngữ, Nguyễn Văn Sâm...

Về thi ca có Nguyên Sa, Quách Thoại, Thanh Tâm Tuyền, Cung Trầm Tưởng, Tô Thùy Yên, Đinh Hùng, Bùi Giáng, Viên Linh, Hoàng Trúc Ly, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Đức Sơn, Du Tử Lê.... Phê bình văn học có Tam Ích, Cao Huy Khanh, Lê Huy Oanh, Đỗ Long Vân, Đặng Tiến, Uyên Thao, Huỳnh Phan Anh...

Đông đảo nhất là văn chương với Võ Phiến, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Bình Nguyên Lộc, Mặc Thu, Mặc Đỗ, Thanh Nam, Nhật Tiến, Nguyễn Thị Vinh, Phan Du, Đỗ Tấn, Nguyễn Mạnh Côn, Sơn Nam, Võ Hồng, Túy Hồng, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Minh Đức Hoài Trinh, Nguyễn Đình Toàn, Chu Tử, Viên Linh, Duyên Anh, Phan Nhật Nam, Nguyên Vũ, Vũ Hạnh, Y Uyên, Cung Tích Biền, Duy Lam, Thế Uyên, Lê Tất Điều, Hoàng Hải Thủy, Văn Quang, Nguyễn Thụy Long, Phan Lạc Tiếp, Thế Nguyên, Thế Phong, Diễm Châu, Thảo Trường, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Mộng Giác, Ngô Thế Vinh...

Toàn bộ sách ấn hành tại miền Nam của những tác giả nêu trên (còn một số người nữa mà người viết bài này không thể nhớ hết) đều bị ‘đánh đồng’ là tàn dư Mỹ-Ngụy, văn hóa nô dịch, phản động và đồi trụy. Các cấp chính quyền từ phường, xã, quận, huyện, thành phố ra chỉ thị tập trung tất cả các loại sách vở, từ tiểu thuyết, biên khảo cho đến sách giáo khoa để hỏa thiêu.

Không có con số thống kê chính thức nhưng người ta ước đoán có đến vài trăm ngàn sách báo và băng, đĩa nhạc bị thiêu đốt trong chiến dịch truy quét văn hóa phẩm đồi trụy-phản động tại Sài Gòn. Sách báo trên kệ sách trong nhà của tư nhân bị các thanh niên đeo băng đỏ lôi ra hỏa thiêu không thương tiếc. Tại các cửa hàng kinh doanh, sách báo bị thu gom để thiêu hủy, coi như đốt cháy cả cơ nghiệp lẫn con người những cá nhân có liên quan. Tất nhiên, những người có sách bị đốt cũng có phản ứng quyết liệt. Trong hồi ký Viết trên gác bút, nhà văn Nguyễn Thụy Long ghi lại một diễn biến trong vụ đốt sách năm 1975:

“Một cửa hiệu chuyên cho thuê truyện tại đường Huỳnh Quang Tiên bên cạnh nhà thờ Ba Chuông tại Phú Nhuận phát nổ khi đoàn thu gom sách mang băng đỏ xâm nhâp tiệm. Ông chủ nhà sách mời tất cả vào nhà. Rồi một trái lựu đạn nổ. Chuyện xảy ra không ai ngờ. Đương nhiên là có đổ máu, có kẻ mạng vong. Những chú nhỏ miệng còn hôi sữa, những cô bé chưa ráo máu đầu là nạn nhân vô tội. Trên cánh tay còn đeo tấm băng đỏ, quả thật súng đạn vô tình! Cả chủ tiệm cũng mạng vong”.

Nguyễn Thụy Long là cháu ruột nhà văn Nguyễn Bá Học nổi tiếng với danh ngôn: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”, người được giới văn học đánh giá là một trong những cây bút đầu tiên viết truyện ngắn hiện đại bằng chữ quốc ngữ trong văn học Việt Nam. Những tiểu thuyết của Nguyễn Thụy Long như Loan mắt nhung, Kinh nước đen cũng gian truân không kém cuộc đời của tác giả, chúng được xếp vào loại ‘văn hóa nô dịch’ nên phải lên giàn hỏa.

Năm 1975, Duyên Anh (Vũ Mộng Long) bị chính quyền mới coi như ‘một trong mười nhà văn nguy hiểm nhất của miền Nam’ với hơn 50 tác phẩm văn chương, trong đó nổi bật có Luật hè phố, Dzũng Đakao, Điệu ru nước mắt, Vẻ buồn tỉnh lỵ, Thằng Vũ, Thằng Côn, Con Thúy. Chế độ mới cấm ông viết lách và bắt giam không xét xử suốt sáu năm qua các nhà tù và trại tập trung.

Vượt biển sang Pháp, Duyên Anh tiếp tục viết và cho xuất bản gần hai mươi tác phẩm, trong đó có Un Russe à Saigon và La colline de Fanta do nhà Belfond xuất bản. Báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình Pháp viết nhiều, nói nhiều về ông. Sử gia Piere Chaunu, giáo sư Đại học Sorbonne, coi Duyên Anh là ‘nhà thơ lớn, vinh quang của quốc gia’.

Đầu năm 1997, Duyên Anh từ trần tại Pháp. Dù muốn dù không, nhiều người ngậm ngùi nghĩ đến tác giả của truyện ngắn đọc đến mủi lòng, có tựa đề là Con sáo của em tôi đăng trên Chỉ Đạo năm 1956. Những truyện ngắn, truyện dài thật trong sáng của tuổi ô mai như Dưới dàn hoa thiên lý hoặc du côn du đãng như Dzũng Dakao… Tất cả lần lượt được hóa kiếp bằng ngọn lửa.

Trong cuốn Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn hóa – tư tưởng xuất bản sau năm 1975 có đoạn viết:

“… Một số người như Duyên Anh, Nhã Ca… chấp nhận chủ nghĩa chống Cộng với một thái độ hoàn toàn tự nguyện. Nhưng nếu xét gốc rễ thái độ thù địch của họ đối với cách mạng, thái độ đó có nguyên nhân ở sự tác động của chủ nghĩa thực dân mới. Họ vừa là kẻ thù của cách mạng, của nhân dân. Nhưng nếu xét đến cùng họ cũng vừa là một nạn nhân của đường lối xâm lược tinh vi, xảo quyệt của Mỹ.
Dù xét dưới tác động nào, hoạt động chống Cộng bằng văn nghệ của đội ngũ những cây bút này cũng là những hoạt động có ý thức. Ý thức đó biểu hiệu trước hết trong thái độ chấp nhận trật tự xã hội thực dân mới, chống lại một cách điên cuồng chủ nghĩa Cộng Sản...
Họ cho văn nghệ là sự chọn lựa một phạm vi hoạt động, một phương tiện để đạt mục đích và tự nguyện dùng ngòi bút của mình phục vụ cho chế độ. Thái độ tự nguyện của họ cũng đã có nhiều người tự nói ra. Vũ Hoàng Chương tự ví mình là ‘viên gạch để xây bức tường thành ngăn sóng đỏ’, Doãn Quốc Sĩ coi mình như một ‘viên kim cương, răng Cộng Sản không sao nhá được’...”

Trong vụ án được mệnh danh là Nhũng tên Biệt kích Cầm bút năm 1986, một số nhà văn ra tòa tại Sài Gòn với tội ‘gián điệp’. Chính quyền mới muốn dựng một vụ án điển hình để đe dọa các nhà văn miềnNam nhưng bất thành vì áp lực từ bên ngoài. Theo kịch bản được dàn dựng, họ muốn xử Doãn Quốc Sĩ mức án tử hình hay chung thân, Hoàng Hải Thủy (từ chung thân đến 20 năm), Dương Hùng Cường (18 năm), Lý Thụy Ý (15 năm), Nguyễn Thị Nhạn (12 năm), Hiếu Chân Nguyễn Hoạt (10 năm) và Khuất Duy Trác cùng Trần Ngọc Tự (8 năm).

Tính ra Hoàng Hải Thủy (còn có bút danh Công tử Hà Đông, Con trai bà Cả Đọi…) ngồi tù ngót nghét 10 năm sau đó tìm đường vượt biên sang Mỹ. Tác phẩm của ông gồm đủ thể loại: tiểu thuyết đăng nhiều kỳ trên các báo, truyện phóng tác, bình luận, phiếm luận… Bây giờ tuy đã già nhưng vẫn còn viết rất hăng ở Rừng Phong (Virginia) trên blog của HHT

Những nhà văn như Hoàng Hải Thủy, Duyên Anh, Nguyễn Thụy Long thường sinh sống bằng nghề viết báo bên cạnh việc viết văn. Trong lãnh vực báo chí, Sài Gòn vẫn được coi là trung tâm của báo chí với những nhật báo lớn đã xuất hiện từ lâu như tờ Thần Chung (sau đổi thành Tiếng Chuông của Đinh Văn Khai), Sài Gòn Mới của bà Bút Trà… Khi người Bắc di cư vào Nam có thêm tờ Tự Do, tiếp đến là Ngôn Luận. Đó là những nhật báo lớn có ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng. Hoạt động báo chí ở Saigòn càng ngày càng phát triển, theo Vũ Bằng, đến tháng 12/1963, ở Sài Gòn có tới 44 tờ báo ra hàng ngày.

alt alt
Nhật báo Tiền TuyếnTiếng Chuông

Một đặc điểm của văn học miền Nam là việc hình thành các nhóm văn học. Nhóm Quan Điểm do Vũ Khắc Khoan thành lập với Nghiêm Xuân Hồng, Mặc Đỗ. Quan Điểm (cũng là tên nhà xuất bản do Mặc Đỗ điều hành) được người đương thời gọi là nhóm ‘trí thức tiểu tư sản’, bởi tác phẩm của họ, trong những ngày đầu chia cắt đất nước sau hiệp định Genève, thường có những nhân vật mang nỗi hoang mang, trăn trở của người trí thức tiểu tư sản trước ngã ba đường: theo bên này, bên kia, hay đứng ngoài thời cuộc?

Theo Trần Thanh Hiệp, nhóm Sáng Tạo là một nhóm sinh viên hoạt động trong Tổng hội sinh viên Hà Nội, trước 1954, gồm bốn người: Nguyễn Sĩ Tế, Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền và Trần Thanh Hiệp. Di cư vào Sài Gòn, họ tiếp tục hoạt động văn nghệ với tuần báo Dân Chủ (do Trần Thanh Hiệp và Thanh Tâm Tuyền phụ trách), rồi tờ Người Việt (tiền thân của tờ Sáng Tạo). Sau đó Mai Thảo gia nhập nhóm với truyện ngắn Đêm giã từ Hà Nội, rồi đến Lữ Hồ, Ngọc Dũng, Duy Thanh, Quách Thoại.

Trên tạp chí Sáng Tạo, ngoài những tên tuổi kể trên người ta còn thấy Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên, Dương Nghiễm Mậu, họa sĩ Thái Tuấn. Sáng Tạo số đầu ra tháng 10/1956 và tạm ngưng ở số 27 (tháng 12/58). Sáng Tạo bộ mới chỉ đến số 7 (tháng 3/60)

alt alt

Nhóm Bách Khoa ra đời tháng 1/1957 và sống đến ngày Sài Gòn sụp đổ. Bách Khoa là nguyệt san văn học nghệ thuật có tuổi thọ dài nhất với 426 số. Bách Khoa do Huỳnh Văn Lang điều hành trong những năm đầu. Đến 1963, khi Ngô Đình Diệm đổ, Huỳnh Văn Lang bị bắt, bị tù, nên giao hẳn cho Lê Ngộ Châu.
Bách Khoa quy tụ được nhiều tầng lớp nhà văn khác nhau thuộc mọi lứa tuổi. Những cây bút nổi tiếng cộng tác thường xuyên với Bách Khoa là Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, Nguyễn Ngu Ý, Vũ Hạnh, Võ Hồng, Đoàn Thêm, Nguyễn Văn Xuân, Bình Nguyên Lộc.... Theo Võ Phiến, trong thời kỳ cực thịnh, tức là khoảng 1959-1963, mỗi số Bách Khoa bán được 4500 đến 5000 bản.

left align image
Đắt khách nhất là tạp chí Văn của Nguyễn Đình Vượng, ra đời ngày 1/1964 và sống đến 1975. Văn do Trần Phong Giao trông nom trong 10 năm đầu, đến 1974 chuyển lại cho Mai Thảo. Văn cũng quy tụ được nhiều nhà văn ở nhiều lứa tuổi thuộc nhiều khuynh hướng, từ Dương Nghiễm Mậu, Thanh Tâm Tuyền đến Thế Uyên, Nguyễn Mạnh Côn, Bình Nguyên Lộc... Văn đặc biệt quan tâm đến việc dịch thuật và giới thiệu văn học nước ngoài. Trần Phong Giao cũng là một dịch giả nổi tiếng, còn có thêm Trần Thiện Đạo, sống ở Paris, dịch và viết về những phong trào văn học đang thịnh hành ở Pháp.

Tạp chí Văn hoá Ngày nay của Nhất Linh ra đời ngày 17/6/1958, được 11 số thì đình bản. Nguyễn Thị Vinh tiếp tục chủ trương tiếp các tờ Tân Phong, Đông Phương, theo chiều hướng Văn hoá Ngày nay.

Tạp chí Đại học, tờ báo của Viện đại học Huế do Linh mục Cao Văn Luận, viện trưởng, làm chủ nhiệm, ra đời năm 1958 ở Huế, và sống đến năm 1964. Trên Đại học, xuất hiện những bài đầu tiên của Nguyễn Văn Trung, người sau này có ảnh hưởng lớn đến thế hệ sinh viên và trí thức.

Về các nhóm, Viên Linh trong cuốn Chiêu niệm văn chương, cho biết: “Các nhà văn xuất hiện thường xuyên, trên nhật báo, qua các nhà xuất bản, nhất là trên các báo định kỳ, và thành từng nhóm. Lý lịch văn chương và sắc thái địa phương của họ rất tương đồng, tùy theo nhóm tạp chí trên đó họ góp mặt”.

Đa số các nhà văn miền Nam qui tụ trên các tờ tuần báo Đời Mới, Nhân Loại, và nhật báo như Tiếng Chuông, Sàigon Mới (Hồ Hữu Tường, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Kiên Giang, Lưu Nghi, Thẩm Thệ Hà, Trang Thế Hy...). Các nhà văn gốc miền Trung xuất hiện trên tờ Văn Nghệ Mới, Bách Khoa (Võ Thu Tịnh, Nguyễn Văn Xuân, Võ Phiến, Đỗ Tấn, Vũ Hạnh, Bùi Giáng, Võ Hồng, Nguyễn Thị Hoàng); các nhà văn ‘di cư’ có mặt trên các tờ Đất Đứng, Sáng Tạo, và trên các nhật báo như Tự Do, Ngôn Luận (Đỗ Thúc Vịnh, Nguyễn Hoạt, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Nghiêm Xuân Hồng, Nguyễn Sỹ Tế, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền) hay Văn Nghệ (Lý Hoàng Phong, Dương Nghiễm Mậu, Viên Linh, Nguyễn Đức Sơn), Hiện Đại (Nguyên Sa, Trần Dạ Từ, Nhã Ca). Tờ Chỉ Đạo, Phụng Sự, Tiền Tuyến quy tụ các nhà văn quân đội hay quân nhân đồng hoá như Nguyễn Mạnh Côn, Mặc Thu, Thanh Nam, Phan Nhật Nam, Thảo Trường...

Khuynh hướng Phật giáo có các tờ Tư Tưởng, Vạn Hạnh với Tuệ Sỹ, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Nguyễn Hữu Hiệu; khuynh hướng Thiên chúa giáo La mã có Hành Trình, Đối Diện với Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Ngọc Lan, Diễm Châu, Thế Nguyên. Mặc dù khi đó đảng Cộng Sản bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, song các nhà văn theo Cộng Sản như Nguyễn Ngọc Lương, Minh Quân, Vũ Hạnh vẫn tạo được diễn đàn riêng trên Tin Văn hay hiện diện trong tổ chức Văn Bút dưới thời linh mục Thanh Lãng làm chủ tịch.

Những tờ như Văn, Phổ Thông, Văn Học, qui tụ các nhà văn không có lập trường chính trị rõ rệt, họ thuần túy làm văn thơ cổ điển như Đông Hồ, Mộng Tuyết, Nguyễn Vỹ, Bùi Khánh Đản, hay văn nghệ thời đại, sinh hoạt thành phố như Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng. Những tờ về nghệ thuật hay về phụ nữ quy tụ các nhà văn như Tùng Long, An Khê, Lê Xuyên, Nguyễn Thụy Long, Hoàng Hải Thủy, Văn Quang...

Về giới cầm bút sau 1963, Nguyễn Văn Trung viết: “Giới cầm bút sau 1963, họ là những người hồi 1954 trên dưới mười tuổi theo gia đình vào Nam hoặc sinh trưởng và lớn lên ở miền Nam hầu hết có tú tài và tốt nghiệp đại học. Số lượng giới trẻ cầm bút này càng ngày càng đông đảo theo đà thành lập các đại học ở các tỉnh Huế, Đà Lạt, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ, Long Xuyên, Tây Ninh và các đại học tư ở Sàigòn như Vạn Hạnh, Minh Đức...”

Những nhà văn trẻ đã trưởng thành về tuổi đời và nhận thức sau 1963, trong hoàn cảnh nhiều xáo trộn chính trị-xã hội, chiến tranh mở rộng với sự can thiệp ồ ạt của quân đội nước ngoài. Thời cuộc và chính trị ảnh hưởng trực tiếp đến họ vì bị động viên hay quân dịch... Do đó, họ có lối nhìn thời cuộc đất nước và nghệ thuật văn học khác hẳn với lối nhìn của những đàn anh viết từ trước 1963… Thơ văn giới trẻ viết sau 1963 thường theo một xu hướng chung, phản ánh vũ trụ Kafka, như tên đặt cho một số đặc biệt về thơ văn của Hành Trình, hoặc phản ánh thân phận những nhân vật Việt Nam tương tự những nhân vật trong tiểu thuyết Giờ thứ hai mươi lăm của Gheorghiu.

Nhờ hệ thống báo chí phát triển, quần chúng độc giả bao gồm nhiều thành phần trong khi các nhà văn nổi tiếng như Mai Thảo, Bình Nguyên Lộc, Túy Hồng, Nhã Ca, Duyên Anh, Chu Tử, Thanh Nam... đều sống bằng ngòi bút một cách dư giả. Họ là những người viết chuyên nghiệp, thậm chí nhiều nhà văn có nhà xuất bản riêng.

Nguyễn Hiến Lê trong 30 năm biên khảo và dịch thuật đã viết được 100 quyển sách trước 1975, và 20 cuốn thời gian sau đó. Nguyễn Văn Trung, ngoài lượng sách về triết học, văn học, in trước 1975, trong những công trình sau 1975, có bộ Lục Châu Học, nghiên cứu về văn học miền Lục tỉnh Nam Kỳ. Những nhà văn như Hồ Hữu Tường, Bình Nguyên Lộc, Mai Thảo... cũng đều có những số lượng tiểu thuyết trên dưới 30 cuốn. Về sáng tác, số lượng tỷ lệ nghịch với chất lượng và đó là cái giá mà nhà văn phải trả.

Về đối tượng độc giả, có thể nói, lớp trẻ ‘bụi đời’ thích đọc Duyên Anh, lớp sống vũ bão thích Chu Tử. Phụ nữ thích Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng, Nhã Ca vì họ phản ảnh đời sống người phụ nữ tân tiến. Lớp trí thức thích cách đặt vấn đề của Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Nghiêm Xuân Hồng. Lớp trẻ lãng mạn giao thời thích đọc Mai Thảo. Tuy nhiên, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu là những tác giả đòi hỏi người đọc một trình độ trí thức cao. Quần chúng bình dân thích Lê Xuyên, Tùng Long... Học sinh trường Tây đọc văn chương ngoại quốc qua tiếng Pháp, tiếng Anh. Học sinh trường Việt đọc các tác phẩm ngoại quốc qua bản dịch hoặc phóng tác.
Bộ sách Văn Học Việt Nam Nơi Miền Đất Mới của Nguyễn Q. Thắng xuất bản sau năm 1975 có đề cập tới 53 ‘văn gia’ của VNCH, mỗi người được tác giả gắn cho một nhãn hiệu. Chẳng hạn, Nguyễn Văn Trung là ‘nhà văn nhập cuộc’, Cao Xuân Hạo ‘nhà lập thuyết ngữ học’, Nguyễn Ngọc Lan ‘nhà văn Công giáo, nhà báo dấn thân’, Thanh Việt Thanh (?) ‘nhà văn cần cù’, Thế Uyên ‘nhà văn nhập cuộc’, Viên Linh ‘hoàng đế’, ‘nhà độc tài' văn học’ (!?), Hồ Trường An ‘dược sĩ (?), nhà văn’…
Những nhà văn nữ như Nguyễn Thị Thụy Vũ được khoác cho cái nhãn ‘nhà văn nữ giầu tình dục’, Túy Hồng ‘nữ văn sĩ giầu tính nhục cảm’, Nguyễn Thị Hoàng ‘nhà văn trẻ của tình lụy’, Thu Vân (?) ‘nhà văn dùng tính dục để giải quyết vấn đề’…

alt alt


alt alt
Chân dung một số văn nghệ sĩ Miền Nam

Một điều không ai có thể phủ nhận là miền Nam trước khi có chiến dịch đốt sách năm 1975 rất phong phú về sách báo, từ sáng tác đến dịch thuật, từ chính luận đến phiếm luận. Điều chắc chắn là trong số các tác phẩm đó ‘có vàng’ nhưng cũng ‘có thau’. Người đọc đủ sáng suốt để lọc ra những gì với họ là tinh túy để giữ lại, hoặc dấu nếu cần
Khi người Bắc di cư vào Nam năm 1954, họ rất ngạc nhiên khi thấy những người đạp xe xích lô đến buổi trưa, tìm chỗ mát nghỉ ngơi. Họ ngồi gác chân đọc nhật trình. Người bình dân miền Nam có truyền thống đọc sách báo mà ở ngoài Bắc không có. Ngay từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 miền Nam đã là vùng đất của tiểu thuyết và báo chí trong khi ngoài Bắc, sách vở, báo chí phần lớn chỉ dành cho người có học.

Miền Nam vào những thập niên 60-70 lại có hiện tượng giao thoa giữa hai nền văn hóa Pháp và Mỹ với sự du nhập ồ ạt của các loại sách Livre de poche của Pháp và các loại sách soft cover của Mỹ. Giá sách nói chung tương đối rẻ vì mục đích chính là phổ biến văn hóa, thương mại chỉ là phụ.

Người đọc có thể tìm loại sách IC (Information & Culture) dưới hình thức sách bỏ túi (Livre de Poche) của Pháp bày bán tại các nhà sách Sài Gòn trước 1975 một cách dễ dàng. Nếu có chút vốn liếng về tiếng Pháp, người ta có thể tìm đọc những tác phẩm cổ điển của Platon, Homère hoặc các tác phẩm đương đại của Albert Camus, Jean-Paul Sartre, Saint Exupéry, Francoise Sagan…


Quân đội Mỹ ào ạt đổ bộ vào miền Nam, nhưng văn hoá Mỹ có vai trò áp đảo hay không? Theo giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, “Thời chiến tranh lạnh, với thế lưỡng cực trên thế giới, miền Nam nằm trong vùng ảnh hưởng Mỹ, và như vậy là có thêm tác nhân mới. Tuy nhiên, văn hoá Mỹ, theo gót đoàn quân viễn chinh, cũng chưa thể gọi là có ảnh hưởng gì sâu đậm. Ở lối sống, ở những giai tầng thấp thì có thể gọi là có ảnh hưởng một cách xô bồ, nhưng ở thượng tầng thì chưa”.


Hoa Kỳ thành lập cơ quan thông tin-văn hóa JUSPAO (Joint United States Public Affairs Office) và tạp chí Thế giới Tự do được phát hành miễn phí cho mục đích tuyên truyền. Đây là báo ảnh, được in ấn bằng phương tiện tối tân nên rất hấp dẫn người đọc.

Cũng có một nguồn cung cấp sách tiếng Anh hoàn toàn miễn phí nhưng rất ít người biết để đem về kệ sách riêng của mình. Đó là sách của Asia Foundation (Cơ quan Viện trợ Văn hóa Á Châu) một tổ chức phi mậu dịch, tặng không cho người đọc là quân nhân, công chức với số lượng hạn chế mỗi lần 5 quyển cách nhau 3 tháng.

Tôi là ‘khách hàng’ thường xuyên của Asia Foundation. Sách của Asia Foundation là loại sách viện trợ thuộc đủ mọi lĩnh vực, trên sách có đóng dấu bằng 2 thứ tiếng “Not for sale” và “Xin đừng bán”. Nếu gặp may, bạn có thể gặp những sách thuộc loại ‘quý, hiếm’.
Tôi còn giữ được một bộ 2 cuốn World Masterpieces (dày khoảng 3000 trang in lại những kiệt tác văn chương của thế giới qua các thời kỳ như Iliad của Homer, Don Quixote của Miguel de Cervantes,Hamlet của William Shakespeare, Thoughts (Les Pensées) của Blaise Pascal, Faust của Von Goethe,The Death of Iván Ilyich của Leo Tolstoy, Theseus (Thésée) của Andre Gide, Remembrance of Things Past của Marcel Proust, No Exit của Jean-Paul Sartre…

alt

Một số sách xuất bản ở miền Nam trước 1975 nay đã được in lại, và càng ngày càng có một nhu cầu muốn tìm hiểu và phục hồi lại nền văn học đã mai một này. Hơn nữa, tên tuổi và tác phẩm của những nhà văn nổi tiếng ở miền Nam đã xuất hiện khá nhiều trên Internet. Sau 1975, Từ điển văn học bộ mớicũng được phép in một số mục từ về Bình Nguyên Lộc, Nguyên Sa, Dương Nghiễm Mậu, Cung Trầm Tưởng, Bùi Giáng...Võ Hồng, Nguyễn Thị Hoàng); các nhà văn ‘di cư’ có mặt trên các tờ Đất Đứng, Sáng Tạo, và trên các nhật báo như Tự Do, Ngôn Luận (Đỗ Thúc Vịnh, Nguyễn Hoạt, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Nghiêm Xuân Hồng, Nguyễn Sỹ Tế, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền) hay Văn Nghệ (Lý Hoàng Phong, Dương Nghiễm Mậu, Viên Linh, Nguyễn Đức Sơn), Hiện Đại (Nguyên Sa, Trần Dạ Từ, Nhã Ca). Tờ Chỉ Đạo, Phụng Sự, Tiền Tuyến quy tụ các nhà văn quân đội hay quân nhân đồng hoá như Nguyễn Mạnh Côn, Mặc Thu, Thanh Nam, Phan Nhật Nam, Thảo Trường...

Chỉ tiếc một điều là một số sách báo xưa đã biến mất sau đại họa 1975 và chỉ còn lưu giữ rất hạn chế tại các thư viện tại hải ngoại dưới hình thức microfilm. Rồi người ta cũng quên đi ‘bữa tiệc BBQ’ nhưng vấn đề là những thế hệ sau này sẽ mất hẳn sợi dây liên lạc bằng sách báo với quá khứ.

Kết thúc bài viết này, tác giả xin mượn ý thơ của Vũ Đình Liên than thở cho thân phận ông đồ trước cảnh tàn lụi của nền nho học:

Năm nay đào lại nở
Không thấy sách báo xưa
Ngọn lửa nào năm cũ
Lạc về đâu bây giờ?

Nguyen Ngoc Chinh (Hồi ức một đời người)


 


https://www.blogger.com/home?pli=1

https://www.blogger.com/home?pli=1

Friday, November 21, 2014

Đôi Điều Nhân Một Chuyến Về


Đôi Điều Nhân Một Chuyến Về

Posted on Tháng Mười 28, 2008 by hophubong
1.
Người thân tôi qua đời, chúng tôi về chỉ còn kịp đi thăm mộ cùng với mẹ tôi vì hôm tang lễ mẹ tôi không đưa tiễn được.
Mới đó mà đã gần ba mươi năm, tôi mới đi lại lộ trình Sài Gòn-Long An. Ngày trước đi Bến Lức là đi về miền quê, hai bên đường ruộng lúa xanh ngát với những cánh cò trắng bay la đà. Không khí nhàn nhã, êm đềm có tầm nhìn hút mắt đó đã tan biến mất! Sài Gòn-Long An bây giờ là những khu phố san sát, bụi mù và chật cứng! Sài Gòn như con quái vật chưa no mồi nên đã và đang nuốt chửng từng thành phố nhỏ lân cận. Lộ trình Sài Gòn-Long An lượng xe không dữ dội như xa lộ Biên Hòa nhưng cũng phải chen lấn, luồn lách, chạy từ từ vì cứ phải ở trong thành phố! Ngày xưa cây cầu Bến Lức xe chạy hai chiều, bằng bê tông cốt sắt, khá “hoành tráng”, bây giờ chỉ dành để chạy một chiều về hướng Sài Gòn, còn chiều kia đã có thêm một cây cầu mới song song. Qua khỏi Bến Lức xe quẹo trái, bắt đầu vào đồng ruộng. Được một đoạn không xa thì xe không còn đường chạy tiếp nên chúng tôi lội bộ. Vẫn kinh rạch, vẫn những thân dừa ngã ngớn soi bóng trên ao nhưng tôi chưa cảm thấy mùi ngai ngái thân quen. Có thể tôi mang tâm trạng khác, nhưng cũng có thể cát bụi mù phố thị đã ùa theo vào đây làm ô nhiễm không khí trong lành. Cô em dẫn đường đi thoăn thoắt nên chốc chốc lại dừng chân đợi mẹ tôi và tôi. Tôi chậm rãi đi sau cùng, cũng dành thời gian để quan sát. Vào sâu, không khí thật sự vùng quê mới hiện ra. Qua một xóm nhà lá có mấy người ngồi trước hiên, hình như đang uống cà phê, màu da sạm nắng và mặc độc cái quần đùi đang phì phà khói thuốc nhìn khách lạ. Tôi chụp ảnh đàn vịt con vàng mượt lông tơ lem luốc sình, đang rúc tỉa bên bờ ao. Mấy căn nhà khác trống hoang trống hoách, không rào giậu. Màu lá bần xanh ngắt, rễ ngoằn ngoèo nổi trên mặt sình màu xám đậm. Bầy thòi lòi nằm dương đôi mắt thao láo với trăm ngàn vết bò rối rắm như tranh ấn tượng. Cái tĩnh mịch vùng quê Nam bộ phải giờ nầy tôi mới cảm nhận lại được.

Hai ngôi mộ người thân nằm chơ vơ trên đồng ruộng khô nước. Hai cây mía cắm ở chân mộ vàng khô lá. Theo tục lệ, hình như đây là loại gậy đuổi tà ma khi chôn cất(?) Vôi vữa còn vương vãi đây đó nhưng chung quanh vắng ngắt. Em tôi cắm một bó hoa vào chiếc bình mà thợ chưa kịp gắn vào bia mộ. Cái mới mẻ của ngôi mộ vừa xây hình như chưa phù hợp được với cái mộc mạc yên lành của quê nghèo. Ngày trước đi trên đường tôi vẫn thường thấy rải rác những ngôi mộ nổi bật trên các thửa ruộng ngập nước ven đường, và ở đâu đó (hình như đường đi Rạch Giá) lại có một ngôi mộ xây kiên cố nhưng chôn theo thế đứng vì sợ nước làm ngập đầu người chết(?) Người miền Nam vẫn thường chôn rải rác không có nghĩa địa, hai ngôi mộ người thân của tôi cũng vậy. Hai cô em tôi lại băng qua bên kia cánh đồng ruộng, xa lắc, đề thắp nhang cho vài ngôi mộ người quen khác. Cảnh đồng không mông quạnh chợt biến đi khi tôi nhìn thấy mấy cột lớn đang nhả khói của một nhà máy phía đường lộ chính vừa đi vào.

Khi trở về, vì phải ghé thăm một gia đình bên quận 8, nên xe rẽ vào một đoạn đường mà mỗi bên có 3 làn xe với vạch kẻ đứt đoạn bằng sơn trắng dài mười mấy cây số và một cây cầu ngắn xây kiểu cọ cho bắt mắt. Mặt đường đen bóng, rộng thênh thang. Đường phân ranh ở giữa trồng cây và hoa khá đẹp, đang có công nhân chăm sóc. Có nơi đủ rộng cho một ao cá hẹp đang phản chiếu mây trời, chạy dài giữa hai dòng lộ, nhưng khu vực nầy lại rất ít xe nên cho cảm tưởng như đang ở phương Tây. Anh tài xế cho biết đây là đoạn đường chạy vào Phú Mỹ Hưng là khu vực xây cất đặc biệt rao bán cho Việt kiều được quảng cáo tràn lan trên Net. Tôi chợt nghĩ đến cảnh chui rúc, bờ bụi, muỗi mòng, trốn tránh khi vượt biên và ngày đó báo đài không ngớt kết án là bọn phản động ôm chân đế quốc đi tìm bơ thừa, sữa cặn.
2.
Tôi và một người bạn đón taxi ra phố. Tôi nói với anh taxi: “Anh chạy xuống hồ Con Rùa”. Nhìn chúng tôi, anh hỏi: “Hai chú ở khách sạn Phạm Văn Hai hả?” Tôi cười, không trả lời. Tôi đang mặc cái T-shirt trắng với cái logo nhỏ của hãng hàng không Delta “đền” vì toàn bộ hành lý 3 cái valise của tôi bị hãng làm thất lạc. Khi khai báo với cô phụ trách ở phi trường tôi được trao cho một túi nhỏ trong đó có cái T-shirt nầy, một bàn chải thật nhỏ với chút kem đánh răng loại dùng trên máy bay và một lưỡi dao cạo râu. Không hiểu là khách đàn bà có khác hơn không(?) Tôi mặc tuềnh toàng như vậy nhưng cũng lộ diện với anh taxi trẻ! Chạy một quãng tôi khen anh taxi: “Anh lái như vậy là đúng lộ trình ngắn nhất, khác với anh hôm qua cứ chạy lòng vòng vì nghĩ là tôi không biết đường”. Anh trả lời: “Có gian như vậy thì cũng chả được hơn bao nhiêu đâu chú ạ! Hãng tính tỉ lệ Km thì cũng đâu có ăn cả được?”. – “Thế anh kiếm một ngày được khoảng bao nhiêu?”. – “Dạ, không chừng chú ạ nhưng một tháng cũng khoảng ba, bốn triệu. Một ca làm là 24 giờ”. Tôi ngạc nhiên: “Anh bảo chạy 24 giờ liền?”. – “Họ chia ca như vậy”. Nghe anh nói giọng Bắc 75 nên tôi hỏi: “Anh ở Bắc vào hay sinh trong nầy?”. – “Dạ, cháu vào được hơn 4 năm rồi”. – “Bằng lái của anh là thứ thiệt hay giả? Tôi nghe nói thời buổi nầy thì đủ loại giả, kể cả vợ chồng”. Anh taxi cười: “Dạ, cháu thì bằng thật nhưng người lái với bằng giả nhiều lắm chú ạ”. – “Tại sao lại phải dùng bằng giả?”. – “Vì chạy làm bằng giả chỉ tốn 2 đến 3 triệu là có ngay, còn bằng thật thì khoảng 5, 6 triệu nhưng phải chờ 6 tháng”. Tôi lại ngạc nhiên: – “Tại sao lại phải chờ đến 6 tháng?”. – “Vì phải đăng ký và theo một khóa học. Thủ tục rất nhiêu khê và nhiều khi mấy ổng bày vẽ ra để dễ bán bằng giả cũng nên. Nhưng bằng giả hay thật cũng từ một gốc mà ra cả đấy, chỉ khác là bằng giả thì không có hồ sơ gốc cho nên nếu bình thường công an không thể phát hiện chỉ khi xảy ra tai nạn lúc đó họ mới truy hồ sơ”. Tôi ngẫm nghĩ: “Phải chăng vì bằng giả nhiều nên tỷ lệ tai nạn giao thông tại Việt Nam được coi là cao nhất?”. Anh taxi phân trần: “Cháu chịu thôi. Nhưng theo cháu, dùng bằng giả thì phải chạy cẩn thận hơn chứ chú ạ!”.
Đến hồ Con Rùa, tôi định vào một quán cà phê ngồi nhìn, vì ở đây là trung tâm những biến động Hoàng Sa-Trường Sa vừa rồi. Tôi cũng biết chắc những nơi như thế nầy đang đầy ắp công an chìm nổi. Tôi muốn nghe cái hơi hướm chung vì lãnh sự quán Trung cộng và Thành Đoàn thanh niên cộng sản Việt Nam cũng quanh đây. Nóng quá, anh bạn tôi cởi cái áo khoát vắt lên vai đẩy tôi đi về hướng nhà thờ Đức Bà.

Hai, ba chiếc bus chở đầy du khách đổ xuống trước cửa chính nhà thờ. Nghe ngôn ngữ lạ tai nên tôi đoán có thể số du khách nầy đến từ Đông Âu. Hai cô hướng dẫn viên mặc áo dài màu sáng tươi nhưng héo nhàu trên khuôn mặt. Trời nóng bức làm tóc, mồ hôi và trang điểm dính vào nhau. Tà áo dài chỉ đẹp ở trời mát và gió lộng còn hoàn cảnh như thế nầy thì chưa chắc đã gây được “ấn-tượng-Việt-Nam” và biết đâu ngược lại? Tôi ngồi lại dưới chân tượng Đức Mẹ nói chuyện với một anh thợ chụp hình về những kỷ niệm cũ. Anh là hình bóng tôi hơn hai mươi năm trước. Ngày đó tôi miệt mài nơi địa bàn nầy để kiếm sống khi ra khỏi tù. Số thợ cũ đã tản mác không biết về đâu chỉ còn lại hai người nhưng tôi không gặp. Chị Hai “dao lam” cũng còn bán cà phê bên kia đường nhưng không có “quán” như trước. “Quán” cà phê của chị bây giờ là chiếc ấm xách tay di động để né công an. Cái biệt danh của chị là do đám thợ hình “ác ôn” chúng tôi đặt. Chị có thân hình thật mảnh. Cà phê của chị thật ngon nên nổi tiếng với biệt danh “cà phê nhà thờ” (khoảng thời gian 1983-86) mà giá không đắt, nhưng vì đám thợ nghèo cứ uống ghi nợ, đến khi có tiền trả thì số tiền đã lớn đến không ngờ và biệt danh “Hai dao lam” ra đời! Chị thật kỳ lạ! Như một loài dây bám chặt vào vĩa hè phố. Loài dây thật nhỏ, thật mảnh nhưng bền bỉ đến lạ thường. Tôi không ngờ, hơn hai mươi năm gặp lại, chị vẫn vậy vậy cho dù tóc đã trắng khá nhiều. Hay chị đã mảnh đến độ không thể mảnh hơn nên bây giờ tôi vẫn nhận ra?

Hai chúng tôi la cà theo Tự Do, vào tiệm sách Xuân Thu chật cứng sách vở và người, rồi ra trung tâm thành phố. Mặt tiền nhà hát (Tòa nhà Quốc Hội thời Việt Nam Cộng Hòa) bây giờ có thêm mấy bức tượng kiểu Hy Lạp đứng hai bên, nơi mà mới đây công an đàn áp nhóm Nhà báo Tự Do căng biểu ngữ cầm tay bằng vải đen, nổi trên đó là năm cái còng Olympic Bắc Kinh 2008, để phản đối Trung cộng công khai hợp thức hóa việc lấn chiếm Hoàng Sa và Trường Sa nhưng nhà nước Việt Nam tùng phục một cách khiếp nhược nên cố tình giấu kín. Hôm nay một tấm biểu ngữ khác hoan hô mấy trăm người nào đó đậu được bằng “thông dịnh viên quốc tế” đang treo ngang cửa ra vào! Không hiểu như vậy thì khi thi đỗ các bằng cấp đại học có “oai” như bằng thông dịch viên đang được tổ chức ra trường tại đây không?

Bức tượng lính Thủy Quân Lục Chiến chỉa súng vào tòa nhà Quốc hội đã bị giựt sụp ngay sau 30-4, bây giờ là cái hồ nước cạn màu rêu nhạt với một bức tượng gây ấn tượng trông như mẹ bồng con. Tượng Đức Trần Hưng Đạo chỉ tay ra biển vẫn còn đó. Bến Bạch Đằng không thay đổi nhiều. Một quán nước tại đây, không được sạch sẽ mấy, tôi uống một hộp coke 10oz, thay vì 12oz như thông lệ, 15.000 (tương đương 1 đô la) Bên Thủ Thiêm nổi lên mấy bảng quảng cáo thương hiệu nước ngoài thật lớn. Hình như cái gì dính tới ngoại quốc cũng có được một chỗ đứng tốt hơn, Việt Nam quả là một dân tộc sính ngoại! Bàn cạnh tôi, một ông ngoại quốc đang cắm cúi gõ trên laptop còn đầu óc tôi chợt ráo hoảnh. Tôi ngồi nhìn hai em bé khoảng chín mười tuổi đang bì bõm trên sình, dưới chân đầu cầu, đưa vợt bắt từng con cá nhỏ tí xíu bỏ vào bọc nylon, không biết hai em bắt cá làm mồi hay để ăn(?). Dòng sông Bến Nghé đục ngầu vẫn cuồn cuộn trôi.
3.
Mua vé xe bus Phương Trang đi Đà Lạt, bến xe chính ngay tại khu phố “Tây Ba Lô” Đề Thám. 90.000/vé. Người nhà cho biết đây là loại xe “cao cấp” chỉ dành chở người nước ngoài nhưng mới mở rộng thị trường để lấy thêm khách Việt Nam. Tôi đọc dòng chữ bằng inox bóng loáng bên hông xe, gần cửa lên xuống: Aero Express High Class. Tài xế và lơ mặc đồng phục, cà vạt. HH và tôi thủ sẳn nước khoáng với bánh mì vì ngại ăn dọc đường nhưng vừa ngồi vào ghế mỗi người được trao thêm một chai nước lọc, một khăn giấy ướp nước thơm đựng trong bọc plastic mang tên hãng xe. Xe chạy đúng giờ, anh lơ thông báo lộ trình nơi dừng xe giữa đường, nơi ăn trưa và ước tính giờ xe sẽ đến Đà Lạt. Chuyến đi khá thoải mái. Có một điều đặc biệt là tại một điểm dừng ngắn cho hành khách giải quyết nhu cầu, chúng tôi theo đám đông và ngạc nhiên khi phải sắp hàng! Nhìn phía trước có vẻ lộn xộn, thì ra là khách phải cởi bỏ giày dép để lại ở bậc tam cấp và chỉ dùng dép riêng của nhà vệ sinh! Một anh “Tây Ba Lô” lẹ tay buộc giày riêng lên ba lô đang đeo, trước khi mang dép nhà vệ sinh, phải chăng đây là phản ứng “tự nhiên” trước nạn cắp vặt(?) Tôi cũng hơi lo ngại nhưng không kịp phản ứng. Vừa sợ mất giày, vừa sợ phải mang đôi dép ướt nhèm nhẹp của nhà vệ sinh! Hú vía, mọi chuyện đều tốt đẹp và có người giải thích là phải làm như vậy để nhà vệ sinh sạch sẽ hơn.
Chúng tôi xuống xe khi cách Đà Lạt gần 30 km. Đây là một vùng quê nhưng cũng đã đổi thay khá nhiều nên khó nhận ra nếu không có người nhà đứng đón. Tôi quyết định sẽ ở lại đây trọn tuần với gia đình và cũng để biết thực tế đời sống của người nghèo. Cầu Bồng Lai được đúc bê tông, đường đã tráng nhựa chạy thông đến Đơn Dương. Đi đến mảnh đất cũ của gia đình, cái “plantation” 8 mẫu vuông vức với ao cá, vườn cà phê, cây trái, mà cả đời ba má chúng tôi đầu tư vào đấy từ đất rừng, đã bị cướp trắng ngay sau 1975, lòng tôi quặn lên. Hết bị cưỡng bức “hiến điền” lại đến bị hăm dọa đưa đi học tập cải tạo về tội “tư sản mại bản”, cuối cùng gia đình phải chạy về miền Tây lánh nạn. Chạy lòng vòng nên tán gia bại sản, đến năm 1991 mới dám quay về lại thì không còn một chỗ để cắm dùi! Khiếu kiện liên tục mười mấy năm, ba má chúng tôi mới cầm được “quyển sổ đỏ” mà “chính quyền” vừa đền bù, là một miếng đất mặt tiền, dưới trũng sâu, 5×15 mét gần ngã ba đi Đơn Dương! Ba má chúng tôi đang ở tuổi 90, tự an ủi: “Thôi, của đổ hốt lại được gì hay nấy!”
4.
Tôi đến thác Prenn không phải để du lịch mà để tìm lại dấu vết xưa. Đoạn đường từ Liên Khương đến Prenn nhà cửa san sát. Hai ngôi làng K’long A, K’long B của người K’ho biến mất. Trước 1975 đây là đồng ruộng, là đoạn đường nguy hiểm nhất thường bị du kích Việt cộng đắp mô, đặt mìn. Lúc đó những ai du lịch Đà Lạt khi đi ngang qua địa điểm nầy đã thấy đồng bào người Thượng mặc xà rông, đóng khố và phần nào nét sinh hoạt của họ qua hình ảnh nhà sàn, heo gà chạy lông rông, là một báo hiệu đặc thù về Đà Lạt. Hình ảnh tự nhiên đó đã mất. Nếu từ phi trường Liên Khương đến Prenn có nhu cầu giao thông tăng vọt thì, thay vì mở rộng con đường có sẳn, vừa tiện, vừa rẽ, người ta lại cầu kỳ đi xẻ một con đường mới chạy dọc theo chân núi Voi. Con đường mới là một vết thẹo vĩnh viễn, tàn nhẫn trên khuôn mặt mĩ miều của thiên nhiên để mặc cho nó một cái tên thời đại là “đường cao tốc”! Đoạn đường cũ ôm ấp quanh mấy ngọn đồi nhỏ, quanh năm xanh mát trước khi đến cầu Prenn là báo hiệu cảnh đồi núi nên thơ của đường đèo trước mắt, người ta tàn phá không thương tiếc, chỉ để cuối con đường cao tốc gặp nhau tại đầu cầu Prenn. Nơi đây được mở thật rộng, mỗi bên 3 làn xe với cổng trả tiền toll giống như chuẩn bị đi vào một đô thị công nghiệp lớn!
Thác Prenn không còn thiên nhiên. Cứ trông như một ngọn thác giả, nước đục ngầu. Chủ trương khai thác thương mại tối đa nên những quán nước, quán bán đồ lưu niệm, đặc biệt lại có một cầu treo một buồng duy nhất (cable) chỉ dài vừa đủ chiều ngang thác nước bon chen giữa cảnh trí thiên nhiên vốn dĩ đã thật hẹp. Đôi vợ chồng đà điểu cao quá đầu người có lông tơ xám mịn từ cổ trở lên với đôi mắt ngơ ngác trông thật đáng yêu nhưng không phải được thong dong cho khách thưởng ngoạn ném thức ăn! Đôi vợ chồng nầy đang phải “lao động”(!) và bị nhốt vào vòng kẽm gai với chiếc yên da màu đen đợi đưa du khách tham quan giá 20.000, cỡi chụp hình 10.000 một lần! Một chú ngựa tía được trang trí đặc biệt để khách trèo lên ngồi chụp ảnh ngay chân thác. Nếu không trèo lên mà chỉ đứng bên cạnh để chụp cũng phải trả 5.000. Khi tôi leo trở lên dốc đang phân vân nửa về, nửa ở thì cùng lúc hệ thống cable vận chuyển, tiếng kêu như tiếng cưa máy của ai đó đang tàn phá thiên nhiên! Bên cạnh đó một tấm biển chỉ đường lên “Đền bà chúa thượng ngàn” độ dốc thật đứng. Tò mò tôi leo lên. Toàn bộ đỉnh một ngọn đồi thông thiên nhiên bị cắt gọn! Một ngôi “đền” với võng lọng vàng son chật cứng trong ba gian thờ, có một cái sân thật thoáng mát, trông còn thật mới. “Đền” thật vắng, tôi hỏi người đàn ông duy nhất, (tôi đoán) chủ ngôi đền, trạc 60, về lai lịch “bà chúa”. Ông giải thích là bà chúa có từ đời vua Lê, chuyên bảo vệ núi rừng. Ông chỉ tôi vị trí “long tàng” là con suối đang chảy xuống thác, phía sau lưng và núi Voi “phục” ngay trước mặt “đền” là địa lý có một không hai! Ông khoe ba “Đền Hùng” cũng ở các đồi bên cạnh và thắng cảnh nầy đã được ông Nguyễn Khoa Điềm, lúc bấy giờ đang là Trưởng ban Văn hóa Trung ương Đảng, phong làm “thắng cảnh quốc gia”! Bây giờ thì tôi mới hiểu ra chiếc xe jeep mui trần, gắn loại bánh đặc biệt để chạy trên đường ciment có sọc ngang làm sẳn, đặt ở ngay chân thác dành cho du khách nào thích lên “viếng Đền Hùng”!
Nếu có “Bà chúa thượng ngàn” là người bảo vệ thiên nhiên thì “bà chúa” có đồng ý cho cắt ngang một ngọn đồi nguyên sinh để lập đền thờ không? Đã là “Bà chúa” thì có cần “long ẩn, voi phục” để làm vua chúa người đời(?) hay đây là mộng vương tướng lỗi thời của ai đó vào đầu thế kỷ 21? (Mong thay những dòng nầy đến tay ông)
Đà Lạt là thành phố nổi tiếng về du lịch nhờ phong cảnh và khí hậu nhưng người ta đã không bảo vệ, tôn tạo mà chỉ biết khai thác thương mại như khai thác thân xác một cô gái nõn nà nơi chốn lầu xanh!
Từ nơi tôi ở lên Đà Lạt bằng xe bus 9.000/vé. Ngày xưa, không một góc phố, một con hẽm nào không có dấu chân HH và tôi nhưng hiện tại chúng tôi đang thật sự là người khách xa lạ. Có gõ dấu giày mình trên lối cũ mới thấm hết được cái hoang vắng trong tâm hồn. Chúng tôi ghé thăm một người bạn cũ còn sót lại. Có lẽ anh là con số hiếm hoi còn trụ lại! Nhìn anh, rồi nhìn hai tấm ảnh lớn hơn phân nửa người thật, đang treo trong phòng ngủ, anh mở cửa cho chúng tôi xem, mới thấy rõ hết dấu vết của thời gian. Một tấm, anh trong bộ quân phục đại lễ trắng đỏ, áo có ngù, dây biểu chương màu bảo quốc huân chương đang đứng thế nghiêm với thanh kiếm chỉ thẳng lên trời, tấm kia, bộ nhung phục dạo phố mùa Đông với nụ cười tự tin của tuổi trẻ. Giọng anh trầm tĩnh: “Bất công và bạo ngược khắp xã hội nhưng mình già rồi đâu còn làm gì được nữa! Mới hôm rồi tụi nó gọi cả lô người vượt-tường-lửa lên làm việc, may quá mình không dính.” Tôi tế nhị hỏi chuyện khác khi vừa nghe hai chữ “may quá”. Hai chữ thật vô tình nhưng đã nói lên một sự thật: sự đầu hàng nghịch cảnh. Tôi hỏi anh có nghe các vụ biểu tình của dân oan, vụ biểu tình của sinh viên về Hoàng Sa-Trường Sa, anh bảo “có nghe” với một thái độ thật thờ ơ! Quay qua chuyện con cái, anh nói: “chúng cũng đỗ đạt và đang làm cho hãng xưởng nước ngoài. Thôi, cứ để yên cho tụi nó, linh tinh một đời như tụi mình có được cái gì đâu? Chỉ thiệt lấy thân!”
Ngọn lửa đấu tranh của người Việt hải ngoại, vốn đã yếu vì chia năm xe bảy, liệu có làm ấm lại được nỗi giá băng trong tâm thức của những người “bám trụ”? Khi còn trẻ nếu ai đó chê mình “hèn” thì chắc chắn sẽ tranh cãi đến cùng, hoặc đưa đến xung đột tay chân, nhưng hơn ba mươi năm vô vọng và phải ép mình chịu đựng, “hèn” giờ đây đã trở thành một triết lý sống?

Chúng tôi trở lại Sài Gòn cũng bằng xe bus Phương Trang. Lần nầy tôi mua vé trước một ngày để chọn hai ghế đầu vì chúng tôi muốn dễ dàng ghi nhận phong cảnh. Đúng giờ thì có taxi đến đón tận nhà và đưa chúng tôi đến bến. Hai ghế đầu phía bên kia của hai người vừa quá tuổi trung niên, có vẽ có địa vị xã hội, vì bên ngoài rất đàng hoàng và suốt lộ trình, dù không muốn, tôi cũng phải nghe loáng thoáng chuyện họp hội và lệnh lạc cho nhiều người qua cell phone. Chúng tôi lại cũng bị phát hiện là ở xa về, một ông bắt chuyện trước: “Anh chị là Việt kiều Mỹ hay Canada?” Ông tiếp: “Tôi có mấy đứa bạn từ Mỹ về cứ rũ tôi đầu tư nuôi cá ở bên đó để bán cá sống trực tiếp cho các chợ Việt Nam. Tụi nó về rũ tôi đi chơi hoài.” HH và tôi không biết việc thương mại nên đề tài lan man chuyện khác. Những bảng hướng dẫn trong xe toàn là chữ Đại Hàn, chỉ duy nhất một tấm biển tiếng Việt gắn trước xe, ngay chỗ cửa lên xuống: “Vì lý do an toàn lái xe Phương Trang luôn chạy tốc độ đúng qui định, xin quý khách lượng thứ” Tôi chỉ vào đó hỏi ông: “Tôi từ xa về nên mới tò mò, ông xem câu viết! Tại sao tài xế chấp hành tốt luật pháp, hãng xe lại phải “xin quí khách lượng thứ”? Ông ngạc nhiên, đọc kỹ lại câu “slogan” mới bật ngữa! Tôi tiếp: “Phải chăng chính câu viết nầy đã phản ảnh đúng thực trạng xã hội?” Ông kia chen vào: “Anh chị có thấy sự đổi thay và có biết những chương trình rất hoành tráng của đất nước không?” Ông khoe nhờ “đổi mới” nên tăng trưởng kinh tế hạng nhất Á châu! Tôi tế nhị hỏi lại: “Ông có thấy hãng xe cho chiếu DVD ca nhạc suốt dọc đường là hoàn toàn được sản xuất ở hải ngoại?” Lúc đó hình như ca sĩ Duy Khánh(?) mặc quân phục Dù với bê rê đỏ vừa hát xong bản “Người ở lại Charlie” có kèm cả hình ảnh khói lửa từ đại pháo và xe tăng. Tôi thêm: “Trước 1975, Đà Lạt-Sài Gòn đã có hai hãng xe bus là Thống Nhất và Thành Lợi, khách muốn đi giờ nào cũng có vé, tuy lúc đó xe chưa có máy lạnh và không rộng như xe đang chạy nhưng 1/3 thế kỷ trước đã văn minh như vậy thì hiện tại, nói chung, phải gọi là “đổi cũ” chứ sao lại đổi mới? Ông kia trả lời thế: “Thì với mấy ổng là đổi mới còn với mình là đổi cũ!” Tôi tiếp: “Cái giá phải trả cho đổi cũ là sinh mạng 4-5 triệu người trẻ Việt Nam, ai chịu trách nhiệm?”
Một tuần lễ tại vùng quê, tôi có thì giờ mở TV nhiều lần. Chiếc TV màu, thật cũ, mà giờ phát hình bình thường chỉ có 2 đài. Em tôi nói nếu muốn nhiều đài thì có TV Cable, phải trả thêm 30.000/tháng (tức khoảng 2 đô la). Đài VTV-1 về tin tức. VTV-3 giải trí (bóng đá và phim truyện Đại Hàn chiếm đa số). Đặc biệt xướng ngôn viên của cả 2 đài nầy đều nói giọng Bắc. Tuyệt nhiên không có giọng Nam! Hiếm hoi lắm mới nghe được giọng Nam là nhờ các phỏng vấn về vụ lúa bị sâu, rầy. Theo dõi tin tức (khá kỹ) tôi thấy không có lý do nào để phàn nàn chính phủ. Tin nào cũng thành công tốt đẹp. Chính phủ lúc nào cũng lo cho dân. Hình ảnh các cấp lãnh đạo Đảng lúc nào cũng bình dân và ân cần khi tiếp xúc. Những tin tức và hình ảnh của các quan chức ngoại quốc ca ngợi Việt Nam được đưa lên rất nhiều. Cũng nhờ cơ hội nầy tôi mới biết nhân dáng ông Trương Tấn Sang, đặc biệt ông không có đôi vành môi mà cả khi nói lẫn cười đều có hình chữ C úp ngược. Hôm đó ông đang ban thông điệp cho giới làm báo, viết văn. Câu hỏi chưa có câu trả lời trong tôi là tại sao hai đài TV nầy chỉ dành đặc biệt cho những người không có cable, là thành phần nghèo khổ và toàn giọng Bắc(?)
Báo chí đã nói nhiều đến chênh lệch giàu nghèo tăng nhanh, khoảng cách ngày một lớn nhưng chưa thấy ai lưu ý khoảng cách thông tin chênh lệch cũng không kém đối với người nghèo! Họ vẫn hy vọng Đảng đem đến hạnh phúc! Vẫn sống trong chờ đợi! Ắt hẳn những người nghèo, những em bé lam lủ quanh năm vẫn tưởng đời mình long đong, lận đận là do số phận. Hiện tại gần 80% dân số Việt Nam sống ở miền quê, dưới mức nghèo khổ, đang là chỗ dựa của Đảng và liệu Đảng có dám cho họ một lượng thông tin cần thiết để hiểu được sự thật và, ít nữa, cũng theo kịp một phần nào đó của văn minh nhân loại?
5.
Trước khi ra đi, em gái tôi trao tôi một DVD và một xấp hình chụp hôm tang lễ của người thân để phân phối cho con cháu. Em tôi nói: “Tụi nhỏ tổ chức ma chay cho ba nó cũng được lắm. Cũng hoành tráng lắm”. Tôi ngạc nhiên đến mở tròn mắt, thao láo nhìn cô em mà một thời cũng từng làm ở Giám Sát Viện số 27 đường Nguyễn Trung Trực, Sài Gòn. Thì ra, ngôn ngữ tự nó có khả năng xâm thực khi mà nhà nước chủ trương. Cho dù thế giới đang thu hẹp nhờ xa lộ thông tin internet nhưng thuyết tuyên truyền nhồi sọ của Goebelbs không phải là không còn hiệu lực! Cơ quan văn hóa của Đảng và nhà nước đã đặt vào miệng báo chí, TV hai chữ hoành tráng. Nhà nước muốn hoành tráng là thành quả của đổi mới! Làm gì cũng nghe hoành tráng, đọc gì cũng thấy hoành tráng. Tôi chợt nghĩ đến 4 chữ phồn vinh giả tạo tại miền Nam sau ngày 30-4-1975! Ngày đó bất cứ cái gì tốt đẹp đều là phồn vinh giả tạo!
(March 31, 0Cool

_________________
Vietnam Library Network

http://chutichquochoi.blogspot.com/

http://chutichquochoi.blogspot.com/

Việt Nam sử lược (năm 1919)

Việt Nam sử lược
Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm
Việt Nam sử lược  (năm 1919) 
của Trần Trọng Kim
Việt Nam sử lược (chữ Hán: 越南史略) là tác phẩm do nhà sử học Trần Trọng Kim biên soạn năm 1919. Tác phẩm này là cuốn sách lịch sử Việt Nam đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ, hệ thống lại toàn bộ lịch sử nước Việt (cho đến thời Pháp thuộc) và được đánh giá là một trong những cuốn sách sử Việt Nam có phong cách ngắn gọn, súc tích và dễ hiểu. Sách được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1921 và được tái bản rất nhiều lần, có lúc đã được dùng làm sách giáo khoa tại miền Nam trước năm 1975. — Trích dẫn từ Việt Nam sử lược của Wikipedia, Bách khoa Toàn thư Mở.
Nội dung dưới đây được lấy từ lần tái bản năm 1971 của cuốn sử này.
Bìa cuốn Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, in lần thứ nhất, Trung Bắc Tân Văn, Hà Nội, 1920

Sài Gòn Giải Phóng từ chối đối thoại vì “không đủ ghế ngồi”?

Sài Gòn Giải Phóng từ chối đối thoại vì “không đủ ghế ngồi”?
Sài Gòn Giải Phóng từ chối đối thoại vì “không đủ ghế ngồi”? Kha Lương Ngãi * Tác giả gửi bài cho VNTB Ngày 4/11/2014, Báo SGGP đăng bài: “Sự thật về lòng “ trung thành” của nhóm thư ngỏ 61 “ của tác giả Tân Vinh quy kết: “nhóm thư ngỏ 61 đã mượn danh đảng viên, mượn danh yêu nước; khoác lên mình tấm áo chống Trung Quốc, nhưng thực chất là chống lại đường lối đối ngoại sáng tạo, độc lập tự chủ của Đảng và nhà nước; tiếp tay cho Việt Tân và các tổ chức phản động lưu vong chống lại sự lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ, phá hoại sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, cũng như làm tổn hại niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng …”. Bất bình vì bị vu khống “tội phản động đáng chém đầu”, đảng viên cùng ký “thư ngỏ 61” ở TP HCM đã cử hai ông Lê Công Giàu và Kha Lương Ngãi đến gặp TBT báo SGGP (ông Tấn Phong) vào lúc 15 giờ ngày 10/11/2014 để đề nghị tổ chức đối thoại, làm sáng tỏ nội dung quy chụp đao to búa lớn, không có lý lẽ thuyết phục và hoàn toàn không có luận cứ luận chứng. Đúng như dự đoán, TBT báo SGGP “bận họp”, nhân viên văn phòng nhận thư (chúng tôi đã chuẩn bị sẵn, xin xem thư). Nội dung thư gởi TBT báo SGGP ghi rõ: “Chúng tôi chính thức kiến nghị được đối thoại với ông TBT và tác giả Tân Vinh vào lúc 15 giờ ngày 14/11/2014 tại báo SGGP. Nếu ông TBT quyết định thời gian, địa điểm khác đề nghị ông TBT thông báo cho chúng tôi biết theo SĐT: 0908511945 (Lê Công Giàu); 0903834271 (Kha Lương Ngãi). Sau đó, ngày 12 và 13/11/2014 ông Kha Lương Ngãi nguyên phó TBT Báo SGGP gọi điện thoại cho ông TBT Tấn Phong nhiều lần để biết kết quả cuộc đối thoại giửa nhóm “thư ngỏ 61” với Báo SGGP vào lúc 15 giờ ngày 14/11/2014 sẽ ra sao. Nhưng chuông reo liên hồi, liên hồi, rồi máy điện thoại bị cúp! Sáng ngày 14/11/2014, có lẽ vì không thể lặng thinh đối với “thư kiến nghị đối thoại “ mà nhóm “thư ngỏ 61” đã trực tiếp trao- nhận tại Báo SGGP, nên TBT báo SGGP đã phải lệnh cho nhân viên văn phòng gọi điện thoại cho ông Kha Lương Ngãi thông báo:chấp nhận cuộc đối thoại vào lúc 15 giờ chiều ngày 14/11/2014, nhưng chỉ đối thoại với ông Kha Lương Ngãi và Lê Công Giàu (mặc dù phía Báo SGGP được giải thích rõ ông Ngãi, ông Giàu chỉ là người được giao nhiệm vụ đi liên hệ cho nhóm “ thư ngỏ 61”). Vì đã chuẩn bị, sắp xếp từ trước và nghĩ rằng: Đã chấp nhận đối thoại thì Báo SGGP không thể khư khư ấn định số người bên khách chỉ là 02 mà không thể là 05, và báo SGGP cũng không thể ấn định đối tượng đối thoại là ô Kha Lương Ngãi, Lê Công Giàu hay là ai khác được, nên đúng 15 giờ ngày 14/11/2014 đại diện cho nhóm đảng viên ký “thư ngỏ 61” ở TP. HCM vẫn có đủ mặt để tham gia đối thoại, gồm: - Võ Văn Thôn, nguyên giám đốc Sở Tư pháp TP HCM - Huỳnh Tấn Mẫm, nguyên TBT Báo Thanh Niên - Lê Công Giàu, nguyên phó TGĐ TCT Du Lịch SaiGon Tourist - Nguyễn văn Kết, nguyên thư ký Bộ trưởng Bộ CA Mai Chí Thọ - Kha Lương Ngãi, nguyên phó TBT Báo SGGP Tiếp 05 vị đại diện nhóm “thư ngỏ 61” là một vị phó văn phòng của Báo. Với thái độ nhũn nhặn, vị PVP chỉ mời ông Ngãi và ô Giàu lên phòng họp để dự đối thoại với lý do duy nhất: Phòng họp không đủ ghế ngồi cho 05 vị khách. Mặc dù khách tuyên bố chỗ ngồi không quan trọng, ngồi đâu cũng được, ngồi chật cũng được…, nhưng cuộc đối thoại vẫn bất thành vì cái lý do duy nhất thiếu ghế ngồi ! Quái lạ, một cơ quan Báo Đảng của một thành phố văn minh, lớn nhất nước, một cơ quan ngôn luận đại diện cho tiếng nói của trên dưới 10 triệu dân thành phố, một tờ Báo Đảng đã từng vang bóng một thời về sự giàu có và uy tín. . . thế mà bây giờ lại thảm hại đến mức không có đủ chổ để đặt thêm 03 cái ghế cho 05 vị khách thuộc nhóm “thư ngỏ 61” ngồi để cùng đối thoại làm rõ đúng sai về bài báo “Sự thật về lòng trung thành...” mà TBT báo SGGP đã cho phép đăng tải như đã nêu trên? Thế là đã rõ: Vì thiếu chỗ đặt thêm 03 cái ghế hay vì cái gì mà không thể đối thoại được để làm rõ sự thật, đúng – sai về bài báo của tác giả Tân Vinh mà TBT Báo SGGP đã cho đăng tải??? Xin nhường quyền bình luận, phán xét cho công luận gần xa !!! -------------------------------------------------------------------- Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc ========== TP Hồ Chí Minh , ngày 10/11/2014 Thư yêu cầu đối thoại với TBT Báo Sài Gòn Giải Phóng V/V : về bài báo “Sự thật về lòng “trung thành” của nhóm Thư ngỏ 61” Kính gởi : Ông TBT Báo Sài Gòn Giải Phóng Ngày 4/7/2014 Báo Sài Gòn Giải Phóng đã đăng bài “Sự thật về lòng “trung thành” của nhóm thư ngỏ 61” của tác giả Tân Vinh. Đây là bài báo bóp méo , xuyên tạc thiện chí góp ý xây dựng Đảng của nhóm 61 Đảng viên ký tên “ Thư ngỏ 61 ‘. Kính thưa : Ông Tổng Biên Tập Góp ý xây dựng Đảng trước thềm Đại hội 12 của Đảng là việc vô cùng cấp thiết, hệ trọng đối với Đảng, đất nước và nhân dân; diễn đàn này nhất thiết sẽ còn tiếp tục. Vì vậy, chúng tôi yêu cầu được đối thoại với ông TBT Báo Sài Gòn GP và ông Tân Vinh tác giả bài báo kể trên để cùng làm sáng tỏ sự thật, ngõ hầu góp phần cho việc góp ý xây dựng Đảng từ nay đến ĐH 12 được tốt hơn. Chúng tôi chính thức kiến nghị được đối thoại với ông TBT và tác giả Tân Vinh vào lúc 15 giờ ngày 14/11/2014 tại báo SGGP. Nếu ông TBT quyết định thời gian, địa điểm khác, đề nghị ông TBT thông báo cho chúng tôi biết theo SĐT : 0908511945 ( Lê Công Giàu ); 0903834271 ( Kha Lương Ngãi ). Kính thưa ông TBT Vì trách nhiệm chung, rất mong ông TBT cùng thể hiện thiện chí với chúng tôi. Trân trọng kính chào ông. TM Nhóm “ Thư ngỏ 61 Lê Công Giàu ( Đã ký ) VNTB

Có phải Nhà nước Việt Nam ngầm công nhận "đường lưỡi bò" ngoài biển đông là của Trung Quốc?


Có phải Nhà nước Việt Nam ngầm công nhận "đường lưỡi bò" ngoài biển đông là của Trung Quốc?
Có phải Nhà nước Việt Nam ngầm công nhận "đường lưỡi bò" ngoài biển đông là của Trung Quốc? TRẦN MẠNH HẢO Sáng nay, vào đọc các báo mạng lề phải ( mà không phải), lề trái ( mà không trái) đều thấy in bài của Thông tấn xã Việt Nam nhan đề : “Việt Nam và Trung Quốc cần tăng cường sự tin cậy” nói về cuộc gặp gỡ giữa chủ tịch nước Trương Tấn Sang và chủ tịch nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa kiêm chủ tịch -tổng bí thư đảng cộng sản Trung Quốc Hồ Cẩm Đào tại diễn đàn APEC 20 Vladivostok ( Nga). Riêng báo Tuổi Trẻ đặt lại “tít-đầu đề” : “Không để biển đông ảnh hưởng đến quan hệ Việt Trung’ đúng nhất với tinh thần nội dung thảo luận của hai vị chủ tịch hai nước : NƯỚC MÔI và NƯỚC RĂNG, xin trích : “Thứ Bảy, 08/09/2012, 08:12 (GMT+7) Không để biển Đông ảnh hưởng quan hệ Việt - Trung TT - Ngày 7-9 tại Vladivostok (Nga), Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã có cuộc gặp với Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang gặp Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào nhân Hội nghị cấp cao APEC 20 -Ảnh: Giản Thanh Sơn Tại cuộc gặp, hai nhà lãnh đạo nhất trí cho rằng trong tình hình hiện nay, việc không ngừng tăng cường sự tin cậy về chính trị, làm sâu sắc hơn nữa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa hết sức quan trọng. Hai nhà lãnh đạo cũng nhất trí về nhiều phương hướng lớn thúc đẩy quan hệ hai nước trong thời gian tới như duy trì, tăng cường các chuyến thăm và tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao hai nước; thúc đẩy hợp tác thực chất cùng có lợi trên tất cả các lĩnh vực, nhất là về kinh tế - thương mại; tăng cường các hoạt động giao lưu nhân dân, nhất là giữa thế hệ trẻ hai nước; tăng cường tuyên truyền về tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước; phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế. Về vấn đề trên biển, hai bên cần kiên trì thông qua đàm phán, đối thoại giải quyết thỏa đáng vấn đề biển Đông bằng biện pháp hòa bình, không để vấn đề biển Đông ảnh hưởng đến sự phát triển ổn định của quan hệ hai nước.”(hết trích) http://tuoitre.vn/The-gioi/510587/Khong-de-bien-Dong-anh-huong-quan-he-Viet---Trung.html Khi hai vị đứng đầu nhà nước đã bỏ ĐƯỜNG LƯỠI BÒ là phần đường ranh biển Đông do Trung Quốc đã vẽ tấm bản đồ xâm lược cướp hết biển Đông của Việt Nam ra ngoài nghị sự, ra ngoài các cuộc đàm phán song phương, thì thôi rồi Lượm ơi, chủ tịch Trương Tấn Sang coi như đã công nhận ĐƯỜNG LƯỠI BÒ ăn cướp hết biển Việt Nam của Trung Quốc là biển của Trung Quốc rồi … Trung Quốc đã chiếm Hoàng Sa và mấy đảo Trường sa, lại đưa 23.000 tàu vũ trang treo lưới đánh cá tràn ngập hai quần đảo của Việt Nam, bắn giết ngư dân Việt Nam như cơm bữa, cướp tàu cướp cá, cướp hết ngư trường của dân Việt Nam trên chính biển của Việt Nam mà quan hệ hai nước vẫn tốt đẹp à ? Đã thế, Trung Quốc sẽ nâng mối quan hệ hai nước tốt đẹp lên bội phần là sau đại hội đảng cộng sản Trung Quốc tháng 11 này, Trung Quốc sẽ cho biển người, biển tàu, biển hạm đội tràn ngập chiếm hết quần đảo Trường Sa của Việt Nam; vì theo thỏa thuận này, Việt Nam vẫn sẽ vui vẻ phấn khởi vỗ tay hoan hô 4 tốt và 16 chữ vàng ( khè), vẫn ngồi im xem NƯỚC RĂNG CHIẾM HẾT BIỂN NƯỚC MÔI sao mà nhanh rứa ( không phải Tô Huy…) ? Dù Trung Quốc có chiếm hết biển Đông thì mối quan hệ hai nước vẫn tốt đẹp, đúng như thỏa thuận của ông Trương Tấn Sang và ông hồ Cẩm Đào tại Vladivostok hôm qua : bỏ vấn đề BIỂN ĐÔNG ra ngoài cac cuốc đàm phán giữa hai nước: KHÔNG ĐỂ BIỂN ĐÔNG LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUAN HỆ HAI NƯỚC. Đến đây thì nhà bình luận quốc tế bất đắc dĩ là Trần Mạnh Hảo cũng phải thốt lên rằng : Chính quyền của đảng cộng sản đang cai trị Việt Nam đã ngầm công nhận ĐƯỜNG LƯỠI BÒ ĂN CƯỚP NGOÀI BIỂN ĐÔNG LÀ CHÍNH THỨC CỦA TRUNG QUỐC rồi ! Than ôi, thời oanh liệt ( Ngô Lý Trần Lê Nguyễn ( Tây Sơn) nay còn đâu …? Người viết bài này hồi còn bé đã được Đảng dạy cho bài hát đến giờ còn thuộc : “ Việt Nam Trung Hoa núi liền núi, sông liền sông chung một biển đông mối tình hữu nghị sáng như rạng đông…”…Hóa ra, vấn đề lưỡi bò hôm nay hai đảng anh em Trung Việt đã thỏa thuận từ xưa : BIỂN ĐÔNG LÀ CỦA CHUNG HAI NƯỚC : nước tôi lớn tôi lấy phần biển lớn, đồng chí nước bé lấy phần biển bé…trước sau rồi mục tiếu xã hội chủ nghĩa cũng phải đến là xóa bỏ biên giới Việt Trung … Mới thấy lời lên án bọn “ CÕNG RẮN CẮN GÀ NHÀ” của chủ tịch nước Trương Tấn Sang hôm kỷ niệm quốc khánh 2-9-2012 vừa qua là chuyện thật như đùa hay chuyện đùa như thật ? Do đó, ông Trương Tấn Sang mới thấy mình và các đồng chí của ông lấy làm “ HỔ THẸN VỚI TIỀN NHÂN” lắm lắm… Sài Gòn 08-9-2012 Trần Mạnh Hảo Tác giả gửi cho NTT blog