“Một thước núi, một tấc sông của ta lẽ nào tự nhiên vứt bỏ đi được … kẻ nào dám đem một thước núi sông, một tấc đất biên ải của tổ tiên để lại làm mồi cho giặc thì kẻ ấy sẽ bị tru di…!” Lê Thánh Tôn (Đại việt sử ký toàn thư) HOANGSA-TRUONGSA LA CUA VIET-NAM SÁNG TÁC-BÌNH LUẬN-TIN TỨC-CHÍNH TRỊ-XÃ HỘI... Thu tu ,bai vo goi ve: hoangtruong2050@gmail.com
My Blog List
Saturday, November 30, 2013
Friday, November 15, 2013
TIẾNG QUỐC GỌI ...
TIẾNG QUỐC GỌI ...
[Thay
Lời Mẹ Dặn]
Con nhớ ra đi cố trở về,
Vì đời đừng ngại tiếng khen chê.
Ơn nhà nợ nước - gìn đôi ngả,
Nghĩa biểntình sông - giữ vẹn bề.
Tổ Quốc ngàn đời lên tiếng gọi,
Nhân Dân muôn thuở lắng tai nghe,
- “Hoàng ,Trường đất Việt người Nam giữ,"
Tiếng quốc đêm đêm gọi giữa hè…
Truong Hoang
Vì đời đừng ngại tiếng khen chê.
Ơn nhà nợ nước - gìn đôi ngả,
Nghĩa biểntình sông - giữ vẹn bề.
Tổ Quốc ngàn đời lên tiếng gọi,
Nhân Dân muôn thuở lắng tai nghe,
- “Hoàng ,Trường đất Việt người Nam giữ,"
Tiếng quốc đêm đêm gọi giữa hè…
Truong Hoang
Thursday, November 14, 2013
Chán ngấy tận cổ chuyện bầu các ông, các bà(DL)
Đào Thanh Hương --Chán ngấy tận cổ chuyện bầu các ông, các bà(DL)
Đào Thanh Hương
Ới các ông Nghị, bà Nghị!!! Liêm sỉ, lương tri để đâu rồi?
Chán ngấy tận cổ chuyện bầu các ông, các bà
Những người hăng hái bầu quốc hội thuở 1946 khi về già cũng chán ngấy cái kiểu bầu bán này. Họ đã cao tuổi, chống gậy đến hòm phiếu được nghênh đón trọng vọng, trong tay có cả tập phiếu của con cháu, thậm chí của hàng xóm... để bầu hộ. Tha hồ gạch xóa lung tung, nhưng kết quả thì "nguyễn y vân" - theo đúng "ý đảng".Chả là, danh sách "đầu vào" do đảng chọn, toàn là những người vừa ý đảng. Danh sách ở đơn vị bầu cử (huyện tôi) có 8, được bầu 7, như vậy xác xuất trúng cử lên tới (5/6) gẩn 90%. Có một bà lồ lộ vai trò "quân xanh" nhưng nếu trúng cử "ngoài dự kiến" lại càng tốt, vì đây sẽ là nghị ca ngợi hoặc nghị gật... Còn lại, rặt là công chức. Lạ! Làm sao cái lũ "đầy tớ" này lại ngang nhiên nhảy vào làm đại diện cho chủ? Hóa ra, đảng "éo" muốn tam quyền phân lập để làm cái trò méo này...
Chưa yên tâm, đảng CS quản lý chặt cả "đầu ra" - tức là độc quyền kiểm phiếu và công bố kết quả.
Thôi! Đủ rồi! Chốt lại một câu: Các ông, các bà có trúng cử theo kiểu bầu bán này cũng chẳng vinh dự gì, ngược lại, nếu còn chút liêm sỉ để biết thẹn.
Cách bầu như trên khiến một lũ vô liêm sỉ vào ngồi trong quốc hội
Như tên Hoàng hữu Phước (đề nghị không thảo luận Luật Biểu Tình), tên Nguyễn Minh Hồng (đề nghị thảo luận "luật nhà văn"), hoặc tên Hoàng Đăng Quang Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Bình... Đây là 3 loại đại biêu điển hình hiện nay.Tôi không muốn kể loại sư sãi chính trị và loại ngây ngô, ngớ ngẩn, ngờ nghệch (chưa thành tinh)...
Dân chỉ còn trông vào lương tâm của từng cá nhân các vị thôi
Số đại biểu như các vị Nguyễn Minh Thuyết, Dương Trung Quốc... rồi Nguyễn Lân Dũng, chiếm chưa tới 5% nhưng bằng lý lẽ và tâm đức đã có lần lôi kéo được đa số bỏ phiếu "sổ toẹt" chuyện làm đường sắt cao tốc. Dù chế độ này có bị giải thể, dân vẫn không quên các vị này.Còn lần này, thông qua Hiến Pháp, lòng tin của dân chẳng còn gì nữa. Kết quả đã được doán trước mười mươi:
- Tên nước sẽ đeo cái gông XHCN - lố bịch quá - vì tới cuối thế kỷ (còn 87 năm nữa lận) chưa chắc đã thành hiện thực (theo tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng). Chỉ những kẻ lố bịch mới bấm nút thông qua cái tên lố bịch này.
- Vẫn giữ điều 4, và lố bịch ở chỗ còn nêu cả "giai cấp", "mác+lê"...
- Vẫn giữ "tam quyền nhất nguyên" - rất đặc trưng phong kiến. Quá dễ để hình dung rằng: Cái vật lù lù ngồi trên cả 3 quyền chính là đảng CS ngồi trên 3 chân kiềng. Cứ tưởng chăc? Nhưng sẽ đổ kềnh vì ngoại lực từ nhân dân. Liệu thần hồn đấy!
- Đất đai vẫn do nhà nước đại diện quyền sở hữu và thống nhất quản lý.
Nhà Nước có 4 quyền: 1) Ban phát đất (cho nhóm lợi ích bất chính); 2) Thu hồi đất (của dân), kể cả với mục đích "phát triển kinh tế" (lợi ích nhóm thấy rõ); 3) Định giá đất (ăn cướp); 4) Cưỡng chế. Cộng 4 quyền này lại, thành quyền ăn cướp.
Ới các ông Nghị bà Nghị!!! Mong các vị còn bao nhiêu lương tri, liêm sỉ, hãy bòn mót hết ra cho lần bỏ phiếu này.
http://danluan.org/tin-tuc/20131114/dao-thanh-huong-oi-cac-ong-nghi-ba-nghi-liem-si-luong-tri-de-dau-roi
Trí thức miền Nam sau 75
Trí
thức miền Nam sau 75
Tác
giả: Một Chứng Nhân Của Lịch Sử (Một BCA gởi cho GNA)
Sau
ngày 30-4-1975, Chu Phạm Ngọc Sơn là một nhà chuyên môn hợp tác toàn diện với
chế độ. Ông và một số nhà khoa học khác thường không câu nệ khi nhận các đơn đặt
hàng thực hiện những công trình “khoa học” phục vụ nhu cầu chính trị. Theo Tổng
thư ký Hội Trí thức Yêu nước Thành phố Hồ Chí Minh Huỳnh Kim Báu: “Những năm ấy,
các trí thức Sài Gòn vẫn nhận được điện thoại từ Văn phòng Thành ủy hỏi xem: ‘Có
công trình khoa học chào mừng 3-2 hay 19-5 không?’.
Những
Giáo sư như Phạm Biểu Tâm, Lê Văn Thới thì mắng ngay: ‘Không có thứ khoa học nào
gọi là khoa học chào mừng cả’. Nhưng một số người khác thì có, người thì làm ra
chất tẩy rửa ‘pentonic’, người chứng minh ‘ăn mấy ký khoai mì bổ bằng một ký
thịt bò’, người thì ‘ăn bo bo nhiều dinh dưỡng hơn cả gạo’. Nhưng ngay cả những
‘nỗ lực’ đó cũng không giúp kiến tạo được lòng tin”.
Giáo
sư Chu Phạm Ngọc Sơn kể: “Nhìn vào lý lịch, thấy trước đây năm nào tôi cũng đi
Mỹ nghiên cứu hoặc đi dạy, người ta cứ thắc mắc sao đi Mỹ quá trời. Tôi nộp đơn
xin vô Hội Trí thức Yêu nước, mấy lần bị từ chối”. Năm 1980, trong thời gian
Giáo sư Chu Phạm Ngọc Sơn đi Liên Xô, một người con của ông vượt biên không
thành. Người con gái của ông cũng cảm thấy bế tắc khi thi không đậu vào dự bị y
khoa. Biết chuyện, ông Võ Văn Kiệt thỉnh thoảng qua lại, trò chuyện, khi hiểu
thêm nội tình, ông nói với Giáo sư Sơn: “Thôi, anh cứ để cho cô ấy và mấy cháu
đi, đi chính thức. Bên đó có điều kiện cho các cháu học hành. Sau này nếu các
cháu trở về thì tốt, nếu không, tôi với anh cũng được làm tròn bổn phận”.
Ông
Huỳnh Kim Báu kể: Sau giải phóng, Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn vào Sài Gòn, sau khi
nghe Mai Chí Thọ, Trần Trọng Tân báo cáo tình hình, ông nói: “Nãy giờ có một
chiến lợi phẩm rất lớn mà các đồng chí không đề cập, đó là lực lượng trí thức
được đào tạo từ nhiều nguồn. Lenin nói, không có trí thức là không có xã hội chủ
nghĩa”. Tuy nhiên, theo ông Huỳnh Kim Báu, cách mà chính quyền sử dụng trí thức
chủ yếu là “làm kiểng”.
Giáo
sư Phạm Hoàng Hộ tuy ở thời điểm đó vẫn còn là hiệu phó Đại học Khoa học, nhưng
theo ông Báu: “Đấy chỉ là một chức vụ bù nhìn, không có vai trò gì trong giáo
dục”. Giáo sư Hộ là hiệu phó nhưng không phải đảng viên, nên khi có vấn đề gì
thì những người trong Đảng họp riêng, quyết định xong, có việc nói vớiông, có
việc ông không bao giờ được biết. Từ rất sớm, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã phản đối
cách đào tạo đưa thời gian học chính trị quá nhiều vào chương trình. Ông cảnh
báo: “Nếu chính trị can dự quá mạnh, các nhà khoa học sẽ mất căn bản”.
Giáo
sư Phạm Hoàng Hộ nói lên điều này sau khi chính ông đã được trải nghiệm trong
những ngày học chính trị. Năm 1977, một lớp học kéo dài mười tám tháng về “Chủ
nghĩa xã hội khoa học” dành riêng cho các trí thức miền Nam đã được tổ chức tại
Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Võ Ba, người tham gia tổ chức lớp học này, kể: “Chính
quyền tưởng rằng sau lớp học sẽ có được một tầng lớp trí thức của chế độ cũ yêu
mến và phụng sự chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, nếu như Marxism đã từng được các
trí thức miền Nam quan tâm như là một môn khoa học thì giờ đây họ lại nghe những
giảng sư miền Bắc nói về Marx hết sức giáo điều. Chưa kể, những người đứng lớp
còn rao giảng với tư thế của người chiến thắng, tự tôn, tự đắc”.
Những
đảng viên tham gia lớp học như ông Võ Ba cũng thừa nhận: “Trước giới trí thức
Sài Gòn, chính quyền đã thất bại ngay trong lần trình diễn đầu tiên”.
Chưa
kết thúc lớp học, Tiến sỹ Nguyễn Văn Trung, một giáo sư triết học nổi tiếng của
Sài Gòn, một người được coi là “hằn học với Giáo hội”, đã coi cộng sản cũng là
“một giáo hội”. Tiến sỹ Nguyễn Văn Trung cho rằng hình thức “kiểm điểm” mà cộng
sản áp dụng trong sinh hoạt chính là một thứ “xưng tội man rợ”. Về đường lối,
ông cho rằng: “Có thể có những điều Lenin nói đã đúng vào năm 1916, nhưng sau
bảy mươi năm mà ta áp dụng là không lý trí”.
Còn
Giáo sư Châu Tâm Luân thì khi nghe các giảng sư miền Bắc say sưa nói về con
đường “tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản”
đã mỉa mai: “Sao không tìm hiểu xem sau chủ nghĩa cộng sản là gì để nhân tiện bỏ
qua, mình bỏ qua luôn hai, ba bước”. Giáo sư Châu Tâm Luân lấy bằng tiến sỹ về
kinh tế nông nghiệp ở Đại học Illinois, Mỹ, năm hai mươi lăm tuổi, trở về dạy
cùng lúc ở hai trường đại học Minh Đức và Vạn Hạnh. Ông là một trong những trí
thức phản chiến hàng đầu, bị chế độ Sài Gòn bắt giam đầu năm 1975 cho tới những
ngày cuối tháng 4-1975 mới được Chính quyền Dương Văn Minh thả ra. Giáo sư Châu
Tâm Luân là một thành viên của nhóm “sứ giả” được ông Dương Văn Minh phái vào
trại Davis 300 và được giữ lại ở đây cho đến trưa ngày 30-4-1975. Sau giải
phóng, chính quyền xếp ông vào diện “người của ta”. Ông là đại biểu khóa I Hội
đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời là ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam.
Về
phía mình, Giáo sư Châu Tâm Luân cũng là một trong những trí thức kỳ vọng nhiều
vào chế độ mới. Mấy tháng “sau giải phóng”, giá cả sinh hoạt tăng vọt lên, trong
khi dân tình lo âu thì ông lại cho là giá tăng vì “tâm lý”, giống như cách giải
thích thời ấy của chính quyền301. Sau khi cho rằng nhà nước không thể dùng ngoại
tệ để nhập hàng như trước đây, Giáo sư Châu Tâm Luân viết: “Giờ đây không còn
bọn tay sai đem máu của con em nhân dân đổi lấy đô la nữa thì cần phải tiết
kiệmtối đa số ngoại tệ mà dân phải lao động đổ mồ hôi mới đem về được cho quốc
gia… Vì vậy ngoài sự tiếp tay chánh quyền kiểm soát gian thương, chúng ta cũng
cầnkềm hãm bớt kẻ địch ở ngay trong lòng mình…”302.
Khi
trao cho Giáo sư Châu Tâm Luân nhiều trọng trách, Chính quyền nghĩ đơn giản ông
là người “dùng” được. Nhưng, cũng như nhiều trí thức Sài Gòn, ông đã không hành
xử như là một công cụ. Từ năm 1976, Giáo sư Châu Tâm Luân không được đứng lớp vì
kiến thức kinh tế của ông là “kinh tế tư bản”, tuy nhiên, ông vẫn còn được để
ngồi trong Hội đồng Khoa học của trường. Chỉ ít lâu sau, Đảng ủy trường nhận xét
ông muốn “tranh giành lãnh đạo với Đảng”.
Giáo
sư Châu Tâm Luân kể: “Tôi ngạc nhiên, chế độ cũ hai lần giao chức cho tôi mà tôi
có màng tới đâu”. Nhưng té ra vấn đề không phải là “ghế”, mà là những ý kiến của
ông ở Hội đồng Khoa học luôn luôn khác với ý kiến của chi bộ. Trong một cuộc
họp, khi nghe ông Đỗ Mười thao thao nói về “hợp tác hóa”, về chủ trương phải đưa
những người bần cố nông lên làm lãnh đạo hợp tác và “phải đào tạo họ”, Giáo sư
Luân hỏi: “Nhà nước định đào tạo trong bao lâu?”. Ông Đỗ Mười nói: “Tình hình
gấp rút, đào tạo ba ngày”. Giáo sư Châu Tâm Luân nhớ lại: “Tôi bắt đầu ngao ngán
vì muốn thay đổi thì phải bắt đầu từ cái đầu mà… những ‘cái đầu’ thì như thế”.
Sau lần gặp ông Đỗ Mười, nhà kinh tế nông nghiệp Châu Tâm Luân được đưa về Viện
Khoa học Xã hội.
Không
chỉ có những đụng độ tại cơ quan. Ở Hội đồng Nhân dân, Giáo sư Châu Tâm Luân là
trưởng Ban Nông nghiệp. Trong một phiên họp toàn thể thảo luận về các chương
trình khoa học của Thành phố, sau khi nghe ông Luân tranh luận, một đại biểu
trong Hội đồng mặc quân phục đứng dậy xin ngưng cuộc cãi vã, và lớn tiếng: “Các
chuyên viên đã để ra rất nhiều thời giờ soạn thảo, đại biểu đó tư cách gì mà đòi
sửa qua sửa lại”. Ông Luân cố dằn lòng: “Tôi xin ngưng cuộc thảo luận, bởi như
vị đại biểu vừa nói, đã có các chuyên viên nghiên cứu cho chúng ta rồi thì chúng
ta chỉ còn là chuyên viên giơ tay thôi”. Chủ trì phiên họp, ông Mai Chí Thọ
không nói gì, chỉ yêu cầu biểu quyết. Nhìn thấy ông Luân không giơ tay, ông Mai
Chí Thọ hỏi: “Ai không chấp thuận?”. Ông Luân cũng không giơ tay, ông nói: “Toàn
thể chấp thuận, một phiếu trắng”.
Một
số cán bộ cách mạng tốt bụng bắt đầu lo lắng cho vị giáo sư trẻ tuổi này, một
trưởng Ban Đảng khuyên: “Tôi sáu mươi tuổi, người ta vẫn xem tôi như con nít,
phải ăn nói thận trọng lắm. Anh nhớ, anh chỉ mới hơn ba mươi tuổi”. Giáo sư Châu
Tâm Luân kể: “Tại diễn đàn của Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi đề nghị
phải áp dụng ‘kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước’. Ông Xuân Thủy
nghe, nói với tôi: ‘Anh phải có người đỡ đầu, anh về nói với Sáu Dân đi’. Tôi
trả lời ông Xuân Thủy: ‘Nếu tôi nói đúng thì các anh phải nghe chứ sao lại cần
người đỡ đầu?’.
Sau
đó, ông Mai Chí Thọ nhắc: ‘Cậu đúng, nhưng áp dụng như vậy thì phức tạp quá, làm
sao chúng tôi quản lý được. Muốn làm phải có những người như cậu. Mà nói thật
chúng tôi chưa thể tin hoàn toàn những người như cậu’”.Theo ông Luân: “Những năm
ấy, tôi chê ông Võ Văn Kiệt nhát, ‘xé rào’ là vá víu; phải ‘phá vỡ’ để áp dụng
kinh tế thị trường chứ không thể phá những đoạn rào. Ông Mai Chí Thọ nghe, nhắc:
‘Phải giữ chính quyền trước hết, chính sách sai thì còn sửa được chứ mất chính
quyền là mất hết’. Về sau tôi mới thấy ông Mai Chí Thọ đã nói rất thật lòng, họ
đã ngủ rừng hàng chục năm để có chính quyền, làm sao họ để mất cái mà họ vừa
giành được đó”.
Hai
vợ chồng Giáo sư Châu Tâm Luân đều học ở Mỹ. Trước năm 1975, gia đình ông đã
định cư ở một nước Bắc Âu, nhưng cả hai đều chọn con đường về nước. Sau năm năm
cố gắng chòi đạp trong chế độ mới, ông không tìm thấy một cơ may thay đổi nào.
Đầu năm 1979, ông vẫn còn được trả lời phỏng vấn các phóng viên nước ngoài,
nhưng càng về sau thì không thấy nhà báo nào gặp ông nữa. Giáo sư Châu Tâm Luân
nói: “Tôi bắt đầu có dự cảm bất ổn. Khi tình cờ gặp một vài phóng viên, nghe họ
nói mấy lần đến Việt Nam xin gặp tôi đều được chính quyền trả lời là Giáo sư
Châu Tâm Luân đang đi công tác xa. Tôi biết tôi đang dần dần bị cô lập”.
Dù
từng hoạt động trong các phong trào chống đối dưới chế độ Sài Gòn, ông Huỳnh Kim
Báu vẫn phải thừa nhận: “Trước 1975, mặc dù chính quyền bị coi là bù nhìn, nhưng
trí thức vẫn được trọng dụng, họ có quyền thực sự trong chuyên môn. Sau giải
phóng, chính quyền được nói là của mình nhưng trí thức gần như chỉ được dùng như
bù nhìn, trong khi đa phần họ là những người khảng khái”.
Năm
1977, có lần hệ thống nước máy của Thành phố bị đục, ông Võ Văn Kiệt mời các nhà
trí thức tới hiến kế. Nhiều người phát biểu, riêng ông Phạm Biểu Tâm ngồi im.
Ông Kiệt hỏi: “Sao vậy anh Tâm?”. Ông Phạm Biểu Tâm nguyên là chủ tịch Hội Sinh
viên Hà Nội trước 1945. Năm 1963, con gái Ngô Đình Nhu là Ngô Đình Lệ Thủy thi y
khoa đã bị ông đánh rớt dù bị nhà Ngô gây áp lực. Ông là một nhà giáo được sinh
viên kính nể. Ông Tâm được nói là rất quý ông Kiệt, nhưng có lẽ do quá bị dồn
nén, ông đứng dậy nói: “Từ ngày mấy anh về, cái đầu trí thức khỏe, vì cái gì
cũng đã có mấy anh nghĩ hết. Nước là chuyện mấy anh đâu phải chuyện tụi
tui”.
Một
thời gian sau, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ trả lại chức hiệu phó. Trường sợ mang tiếng
không nhận, ông khóa phòng, giao chìa khóa, tự chấm dứt vai trò “chim kiểng” của
mình. Theo ông Võ Văn Kiệt, Thành ủy vẫn để Giáo sư Phạm Hoàng Hộ hàng năm sang
Pháp dạy học. Trong một lần đi Pháp, ông ở lại luôn bên đó rồi viết thư về cho
ông Kiệt nói rằng, công việc nghiên cứu nhiều, ông cần phải ở nơi có phương tiện
cho ông làm việc, khi nào đất nước thực sự cần, ông sẽ về.
Còn
Giáo sư Châu Tâm Luân, nhân một buổi tối rủ ông Võ Ba tới nhà chơi, đã đưa cho
Võ Ba coi một tập đánh máy hai mươi trang về “tình hình kinh tế nông nghiệp miền
Nam”, rồi nói: “Võ Ba ơi, mình rất mừng vì bản báo cáo này của mình đã được Mặt
trận Tổ quốc đánh máy gởi đi. Hai lần trước thì họ không chịu đánh máy. Nhưng,
Võ Ba ạ, họ đánh sai hết, những thuật ngữ như ma trận họ đánh thành mặt trận ông
ạ”.
Mấy
hôm sau, Võ Ba chạy qua nhà Giáo sư Luân thì thấy cửa đóng, bên trong thấp
thoáng bóng mấy công an đến “chốt nhà”. Cho dù, sang tới Thái Lan ông bị các
thuyền nhân khác đánh rất đau, khi viết thư về, trả lời câu hỏi của ông Huỳnh
Kim Báu, “liệu vượt biên có phải là một quyết định sai lầm”, Giáo sư Châu Tâm
Luân vẫn cả quyết: “Không, Báu! Dù phải trả giá đắt, mình vẫn thấy đi là
đúng”.
Trong
số các trí thức miền Nam, ông Võ Văn Kiệt “xếp” Giáo sư Châu Tâm Luân vào hàng
“khó tính”. Tuy nhiên, ông kể: “Đến nhà Châu Tâm Luân mình rất thích vì ảnh
thẳng thắn, nghĩ sao nói vậy, có khi như búa bổ. Ảnh hy vọng khi đất nước hòa
bình, với sự phì nhiêu của đất đai miền Nam, sẽ có dịp thi thố giúp phát triển
nền nông nghiệp. Nhưng một thời gian sau, thấy cơ chế như thế thì không thể nào
đóng góp được”.
Một
người khác từng quen biết Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt nhưng cũng phải vượt biên
là Kỹ sư Phạm Văn Hai, giám đốc nhà máy dệt Phong Phú. Ông Phạm Văn Hai là người
đưa kỹ nghệ nhuộm vào miền Nam. Ông có hai người con, một người được đặt tên là
Phạm Chí Minh, một người là Phạm Ái Quốc. Sau ngày 30-4, ông Phạm Văn Hai vẫn
nhiệt tình tư vấn để phục hồi ngành dệt và nghiên cứu chất kích thích cây
cỏ.
Nhưng
năm 1977 ông quyết định “đi”. Vượt biên hai lần, cả hai lần đều bị bắt. Lần đầu
bị bắt ở Kiên Giang, Thành ủy lãnh. Lần hai, bị bắt ở thành phố, ông Võ Văn Kiệt
vào thăm, ông Hai nói: “Cho dù anh quan tâm nhưng như thế này thì không làm
được”. Ông Võ Văn Kiệt thừa nhận: “Những người như Kỹ sư Phạm Văn Hai, như Giáo
sư Châu Tâm Luân…, nếu chỉ khó khăn về cuộc sống họ sẽ vượt qua, nhưng nếu bị
đặt vào hoàn cảnh không thể đóng góp thì họ không chịu được. Tôi cũng không biết
làm gì hơn, chỉ đề nghị mấy ảnh đừng vượt biên nguy hiểm”.
Ông
Võ Văn Kiệt nhớ lại: “Tôi tiếc đứt ruột khi để những anh em trí thức ấy ra đi,
nhưng biết là nếu họ ở lại thì cơ chế hiện thời cũng chưa cho phép mình sử dụng
họ”. Trước khi vượt biên, ông Dương Kích Nhưỡng, một công trình sư cầu cống,
thủy điện, nói với ông Võ Văn Kiệt: “Ước mơ của các anh rất đẹp, nhưng các anh
làm như thế này là không được. Đi đâu cũng nghe nói tới nghị quyết, làm cái gì
cũng chỉ theo tinh thần nghị quyết này, chủ trương kia thay vì theo pháp luật.
Trị nước mà bằng nghị quyết và chỉ thị chung chung thì không được”.
Tổng
Thư ký Hội Trí thức Yêu nước Huỳnh Kim Báu nhớ lại: ông Kiệt biết là các trí
thức bắt đầu vượt biên, ông gọi tôi lên và dặn “Nghe ngóng, nếu có anh em trí
thức bị bắt ở đâu, anh phải lãnh về”. Khi nhận được tin công an Bình Thuận bắt
giam Kỹ sư Dương Tấn Tước, ông Kiệt cấp giấy cho ông Báu ra Bình Thuận xin “di
án về Thành phố”. Ông Báu kể: “Công an Bình Thuận thấy giấy của Thành ủy thì cho
nhận ‘can phạm’. Nhưng khi anh Tước thấy tôi mừng quá định kêu lên, tôi đã phải
giả vờ làm mặt lạnh, bước tới, còng tay anh Tước. Dọc đường, tôi cứ phải làm
thinh mặc cho Kỹ sư Dương Tấn Tước ngơ ngác. Qua khỏi Bình Thuận, tôi mới mở
còng và giải thích: Công an Bình Thuận mà biết, người ta chụp đầu cả tôi”.
Đích
thân ông Kiệt cũng nhiều lần đến các trại giam để bảo lãnh các trí thức. Theo
ông Phạm Văn Hùng và Nguyễn Văn Huấn, hai người giúp việc thời đó của ông, hình
thức “xử lý” đối với những trí thức vượt biên của “Anh Sáu Dân” là kêu tụi tôi
đích thân đi làm lại hộ khẩu và sổ gạo cho họ. Nhưng phần lớn các trí thức đã ra
đi lặng lẽ. Giáo sư Châu Tâm Luân kể: “Tôi đi tất cả sáu lần. Lần bị giữ lâu
nhất là ở Rạch Giá, cả tháng trời. Nhưng tôi không khai mình là ai. Như bốn lần
trước, ở nhà cứ lo một cây vàng thì được thả”.
Có
những người không chịu nhờ Thành ủy, hoặc “lo” bằng vàng. Theo ông Huỳnh Kim
Báu, khi vượt biên bị bắt, Giáo sư Lê Thước đã tự sát.
!!!!!!!!!!!!!!
Tuesday, November 12, 2013
Nhân vụ án Nguyễn Thanh Chấn, nghĩ đến Quốc hội & cuộc ép cung dân tộc
Nhân vụ án Nguyễn Thanh Chấn, nghĩ đến Quốc hội & cuộc ép cung dân tộc
Hạ Đình Nguyên
Sau 10 năm ngồi tù với cái “án giết người”, ông Nguyễn Thanh Chấn được trả tự do, vì kẻ giết người thật sự – Lý Nguyễn Chung – tự ra đầu thú, mọi sự đã phơi bày ra ánh sáng.
Án oan sai của nền tư pháp thì quốc gia nào cũng có, nhưng đặc điểm ở đây là sự ép cung quá điển hình mà lại đồng bộ.
Ngày 15/8/2003 định mệnh ấy, khi người nông dân tên Chấn đi lấy nước, đúng lúc có người phát hiện xác phụ nữ tên H ở cùng thôn, bị giết hại. Thế là ông trở thành kẻ giết người sau những màn ép cung, trên cơ sở vết dấu chân gần giống nhau.
Vì ngu dốt và đúng hơn, vì bệnh thành tích của điều tra viên đã chuyển hóa thành lập trường kiên định, họ dùng bạo lực để ép cung, bất kể sự phân trần phải quấy, buộc ông Chấn phải nhận tội, phải nói theo, làm theo chỉ dẫn và còn tập cho ông thuần thục những động tác để tái diễn hiện trường y như thật! (Có lẽ giống người Bắc Triều Tiên khóc thương lãnh tụ).
Hai phiên tòa sơ thẩm, rồi phúc thẩm vẫn thản nhiên kết luận y án “giết người”. Vì ngu dốt, vì thành tích của hệ thống tòa lại đã chuyển hóa thành lập trường kiên định?
Vợ ông 10 năm kêu oan cho chồng. Nhưng những lá đơn khiếu nại của người đàn bà khốn khổ vẫn bị gạt bỏ, không đếm xỉa tới. Tất cả họ đều kiên định lập trường!
Cái ngu dốt, cái thành tích để tiến lên cõi quan trường bây giờ đã nâng lên một tầng cao và trở thành niềm tin. Và niềm tin đó được cùng nhau củng cố trong một hệ thống. Sự lừa dối đã mặc bộ y phục công lý hoàn chỉnh, sự bất lương thì ẩn dưới niềm tin.
Bất ngờ 10 năm sau, cái luận lý biện chứng hùng hồn như đinh đóng cột vang lên ở các chốn công đường, bây giờ bỗng đổ vỡ ra từng mảnh. Có lấp liếm sửa thế nào thì mọi chuyện cũng đã bay qua, ông Chấn đã 10 năm cơ thể hao mòn, sinh lực cạn kiệt, gia đình điên đảo. Cái tụt hậu toàn diện ấy của gia đình ông không thể gỡ nổi.
Ông Vũ Đức Khiển, nguyên chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội, đòi hỏi phải tiến hành thủ tục để minh oan! Không, vì chưa đủ. Đúng ra phải là lời thú tội chân thành làm gương cho kẻ khác! Và lời thú tội phải diễn ra trên diện rộng, toàn ngành tư pháp. Vì hệ thống ấy đã tạo nên những con người không đủ lương thiện và không đủ chuyên môn. Cái cốt cách thiển cận không mang nổi sự lếu láo của “hồng và chuyên”.
Thử lắng nghe tiếng quanh co phát ra từ bản chất, dù sau mọi đổ vỡ:
“Giờ bị cáo oan sai thì trách nhiệm là do Quốc hội chứ biết sao được?”. Và: “Chúng tôi xử sơ thẩm mà cấp phúc thẩm y án thì chứng tỏ có đủ căn cứ kết tội bị cáo về tội giết người. Cấp phúc thẩm tuyên y án có nghĩa chúng tôi xử đúng rồi và chúng tôi cũng không có trách nhiệm gì. Giờ vụ án có sai thì trách nhiệm thuộc về cấp phúc thẩm của tòa tối cao”.
Ai có thể lay chuyển để khơi dậy lương tri của những con người như thế? Và để làm gì chứ? Họ nói họ đã quên rồi, họ đã chuyển “công tác” khác… Thật đơn giản! Sở Khanh dù lẩn trốn hay ngồi tù, Tú Bà vẫn y án đòn roi.
Cái oan của Nguyễn Thanh Chấn, cũng đơn giản như cái sai của Dương Chí Dũng, vốn là điển hình trong muôn một của ngành Tư pháp và ngành Hành pháp, vì có cùng một nguồn gốc, và hậu quả như nhau. Vì ông Chấn có ra tù, ông Dũng có vào tù, thì đau khổ ông kia cũng đã nhận, tiền ngàn tỉ của quốc gia cũng đã mất.
Và ngành Lập pháp – các ông bà nghị hôm nay đang hùng hổ trong Quốc hội – tiếp tục kiên định lập trường thông qua dự thảo sửa đổi Hiến pháp – một bản án có tính thời đại trên hồ sơ ép cung dân tộc – đã được sắp đặt và dàn dựng, mặc cho đơn khiếu nại, phản đối và tiếng gào thét kêu oan của dân chúng diễn ra khắp nơi. (*)
Mai kia, đất nước có tụt tận đáy loạn ly, thì họ – những kẻ bạo hành ép cung dân tộc – vẫn ngồi trong căn phòng nhỏ của ngôi nhà to của mình, mắt mờ chân run, chẳng đáng để làm gì (như đã và đang thấy)!
Và họ chẳng cần quan tâm hậu thế phê phán ra sao, mụ mẫm ngồi trơ ra đấy, dù lịch sử có ghi lại vết nhơ.
Họ vẫn sắp nhấn nút “y án”!
Một bản án định mệnh của dân tộc!
H. Đ. N.
9–11–2013
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.
(*) Trích vài dòng “đơn khiếu nại” và cảnh báo tiêu biểu:
– Kiến nghị 72: “Nếu hiến pháp thực sự do nhân dân quyết định thì việc định trước vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội thuộc về một tổ chức chính trị hay một tầng lớp là trái với quyền làm chủ của nhân dân, quyền con người, quyền công dân và ngược với bản chất của một nhà nước pháp quyền.”
– Nguyễn Sĩ Dũng (trả lời phỏng vấn của báo Tuổi trẻ, ngày 04/11): “Chúng ta đang sống trong một thế giới đã thay đổi. Sống theo cách cũ, vì vậy sẽ không có tương lai. Điều đáng lưu ý là không chỉ thế giới đã rất khác, mà những người dân cũng đã rất khác. Tôi có cảm giác là hàng chục triệu người dân đã hội nhập với thế giới hiện đại nhanh chóng và hiệu quả hơn so với nhiều thiết chế đang vận hành nền quản trị quốc gia của chúng ta.”
Tuesday, October 29, 2013
GS Trần Phương: CNXH đưa ra chỉ để bịp thiên hạ!
GS Trần Phương: CNXH đưa ra chỉ để bịp thiên hạ!
![]() |
| Giáo sư Trần Phương, cựu phó Thủ tướng Chính phủ |
Lời dẫn của
Huỳnh Ngọc Chênh: Tôi được vinh dự nghe giáo sư, phó thủ tướng Trần Phương
nói chuyện thời sự một lần. Đó là vào năm 1987, khi tôi là giáo viên trường Phan
Chu Trinh Đà Nẵng. Nhân dịp ông vào công tác Đà Nẵng, ban giám hiệu trường Phan
Chu Trinh đã mời ông về nói chuyện cho toàn thể giáo viên
nghe.
Lúc đó tôi đang
rất hoang mang về "con đường quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội" thì qua bài nói
chuyện, ông đã khai sáng cho tôi rất nhiều. Một số nội dung trong bài phát biểu
dưới đây là những điều tôi đã được nghe hồi đó, dĩ nhiên, dưới cách nói bóng
bẩy, rào đón hơn chứ không thẳng thừng như góp ý với đảng.
Đây là phát biểu
của GS Trần Phương, cựu Phó Thủ tướng Chính phủ, cựu Bộ trưởng Bộ Nội Thương
(1981-1982), cựu ủy viên Trung ương Đảng, hiện là Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế
Việt Nam. Phát biểu này của GS Trần Phương tại hội thảo góp ý cho văn kiện Đại
hội 11 trước đây, do có liên quan tới phát phiểu gần đây của TBT Nguyễn Phú
Trọng về tình hình xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở Việt Nam, xin được giới thiệu
cùng độc giả.
GS Trần Phương
đã phát biểu như sau: "Thế tôi hỏi ông là: bây giờ ông nói là nền tảng của ông
là chủ nghĩa Mác – Lênin thì chủ nghĩa Mác – Lênin là cái gì đây nhỉ? Thế ông
không nói đến chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử đâu, cái
chuyện đó xa xôi, với các nhà học thuật thôi, có phải không? Thế bây giờ chủ
nghĩa Mác – Lênin là cái gì, mà ông nói là nền tảng của ông?
Chúng ta đã trải
qua 70 năm (người Việt Nam thì 20 năm) ông xây dựng CNXH theo nguyên tắc mà ông
Mác đưa ra, là gì? Chuyên chính vô sản về mặt chính quyền. Thứ hai về mặt kinh
tế thì lấy chế độ công hữu làm nền tảng đấy, thu hẹp và xóa dần cái kinh tế tư
nhân và thị trường tự do, rồi phân phối theo lao động v.v… Nhưng mà bây giờ ông
xem lại tất cả những nguyên tắc đó ông có làm không? Tôi nghĩ ông từ chối rồi
còn gì nữa. Có phải không? Khi các ông đổi mới... À, người Việt Nam thì giỏi cái
chỗ rằng là ông dùng danh từ để ông lẩn trốn. Ông nói là ông 'đổi mới' nhưng
thực ra ông 'thụt lùi'.
Tôi có lần viết
cho lời nói đầu một bài viết của anh Đặng Phong về tư duy kinh tế. Tôi nói đổi
mới thực chất là ông lùi lại. Ông tiến lên chế độ công hữu như bây giờ đó thì
ông phải lùi lại rồi. Ông từ chối cái kinh tế tư nhân nhưng ông phải thừa nhận
cái kinh tế tư nhân, thừa nhận kinh tế năm thành phần, nhiều thành phần, thậm
chí thừa nhận cả chủ nghĩa tư bản. Thế là ông thụt lùi chứ.
Tôi không gọi là
thụt lùi mà là bởi vì cái thời kỳ mà ông xây dựng CNXH từ năm 60 cho đến năm 80
là ông theo cái tư tưởng tả khuynh. Ông theo một cái tư tưởng giáo điều mà cái
điều này tôi nói là ông Mác sai, ông Mác sai dự kiến là CNXH, với những đặc
trưng đó, là dự kiến của ông Mác là sai. Ông Mác có nhiều cái dự kiến phải nói
là thiên tài, nhưng riêng dự kiến là những đặc trưng của CNXH là ông Mác sai.
Nhưng mà chúng ta không thừa nhận rằng ông ý sai. Chúng ta cứ làm giả vờ như là
ta vẫn theo ông Mác. Thì xin lỗi, ông giả vờ ông Mác thì ông đã thay đổi hành
động của ông rồi.
Cho nên cái đổi
mới của ông nó thực chất là ông lùi lại chứ không phải là ông tiến lên. Lùi lại
chế độ sở hữu tư nhân. Ngay cả chế động công hữu ông cũng phải cổ phần hóa bớt
đi. Vì công hữu đó, ông có hiệu quả đâu. Trừ mấy thằng to tổ bố thì không ai làm
nổi, ông dầu khí này, ông điện lực này v.v… thế còn nói chung một loạt các cái
công hữu của ông đó là nó làm bố láo, nó tiêu tốn đất đai và vốn của nhà nước
rất nhiều. Nhưng mà ông cứ ôm lấy nó để tưởng là CNXH.
Cho nên tôi nói
rằng là chúng ta đổi mới mà thực ra là chúng ta lùi lại chứ không phải đổi mới.
Đổi mới là so với những cái chúng ta đã làm sai 20 năm thì gọi là đổi mới. Ông
đổi mới theo kiểu đó, theo ông là sai 20 năm rồi, bây giờ ông đổi mới thì ông
phải sửa cái sai ấy đi. Nhưng thực chất ông lùi lại. Vâng, vâng, ông trở lại.
Bởi vì thế này, thực ra tôi nói là Mác nói là triệt tiêu cái chế độ tư hữu, tôi
nói là luận điểm của cụ là sai. Bởi vì 70 năm Liên Xô và Đông Âu, Đông Âu thì 40
năm thôi, ông triệt tiêu cái chế độ tư hữu. Thế là nền kinh tế mất động lực, mất
động lực, ông phải lùi lại, thực chất ra ông lùi lại đấy chứ. Việt Nam ta cũng
phải lùi lại đấy chứ.
Cho nên tôi nói
là chúng ta … đây thì không biết là góp ý kiến rồi để rồi người ta như thế nào,
nhưng ý tôi thì thế này này, ông đừng tiếp tục nói như bịp người ta! Tôi nói ví
dụ như bây giờ, là vì ông nói là nền tảng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác – Lênin
cho nên rằng tất cả các trường ông đều bắt nó dạy chủ nghĩa Mác – Lênin. Lắm lúc
tôi bảo: trời đất ơi, ba cái thằng trẻ con này đó, nó học một mẩu của chủ nghĩa
Mác – Lênin thì nó biết cái gì?! Nhưng mà cứ vẫn phải bắt buộc làm như
thế.
Còn bây giờ
trong cái cương lĩnh này, trong cái gì này… thì ông đều nói chủ nghĩa Mác –
Lênin và ông đều nói XHCN, nhưng tôi hỏi các anh đây, các anh đây là người đọc
sách nhiều nhất rồi đây. Tôi hỏi ông CNXH bây giờ là cái gì? Tôi đố ông trả lời
được đấy?!
Cái điều mà ông
Mác nói về CNXH là chế độ công hữu chiếm địa vị thống trị. Còn ông, thu hẹp cái
sở hữu tư nhân đi đến xóa bỏ sở hữu tư nhân, rồi thị trường tự do. Ông làm lộn
ngược rồi. Thế bây giờ cái CNXH của ông là cái gì đây? Thật ra mà nói, chúng ta
nói và chúng ta biết là chúng ta bịp người khác!
Đến tôi bây giờ,
tôi cũng không biết cái CNXH mà chúng ta sẽ đi là cái CNXH gì đây? Có nhiều
người bảo rằng thôi thì ta cứ đành lấy khẩu hiệu là gì, "dân giàu, nước mạnh, xã
hội dân chủ công bằng, văn minh", đó là CNXH. Tôi xin lỗi ông. Đấy không phải
CNXH!
Xã hội dân chủ,
công bằng, văn minh, tôi hỏi anh: anh đã bằng thằng Thụy Điển và thằng Na Uy
chưa? Nó không xã hội dân chủ, cũng công bằng mà công bằng hơn ông, mà văn minh
thì tất nhiên là hơn ông rồi. Thế thì cái CNXH mà anh bảo rằng là lấy cái khẩu
hiệu "dân giàu, nước mạnh" mấy cái câu đó mà thay thế cho CNXH, đấy là CNXH của
tớ đấy! Tôi nghĩ không đúng. Ông bịp thiên hạ với cái chữ CNXH của
ông!
Đại hội X, tôi
đã nói trước Bộ Chính trị trước khi các anh đưa … bởi vì thế này này: tôi được
cái ưu điểm là người ta mời mình vì mình là một thằng lão thành, lâu năm quá rồi
mà chưa chết cho nên người ta cũng mời mình phát biểu. Nhưng tôi nói là các anh
định nghĩa cho tôi nghe là cái CNXH mà chúng ta chủ trương đây là nó là cái gì?
Cũng không ai trả lời. Rồi tôi hỏi là: ông nói định hướng cái XHCN thì cái định
hướng đó là cái gì? Tôi xin lỗi các nhà lý luận ngồi đây, là ông cũng không trả
lời được. Có phải không ạ? Ông nói về định hướng XHCN thì định hướng của ông là
cái gì đây, ông nói tôi nghe? Ông bảo là xóa đói giảm nghèo. Xin lỗi ông, cả thế
giới nó làm. Mà Liên hợp quốc nó đang giúp ông hẳn cái việc ấy đó. Thế chả nhẽ
nó giúp ông xây dựng XHCN nhà ông đấy à? Xóa đói giảm nghèo, giỏi lắm thì ông
nói được cái định hướng XHCN là xóa đói giảm nghèo, nhưng mà ông còn thua xa ba
cái thằng tư bản.
Cho nên tôi cảm
thấy là … viết thế nào thì tôi chưa nói, nhưng đại để là ông đừng đao to búa lớn
quá. Lúc nào cũng là 'nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin', lúc nào cũng là 'định
hướng XHCN' rồi 'xây dựng CNXH' và thậm chí bây giờ có chỗ ông còn viết là
'chúng ta đang quá độ lên CNXH'!"
(Tin không lề)
Wednesday, October 23, 2013
Vài suy nghĩ nhân đọc bài tưởng niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp của Tonneson (1)
Vài suy nghĩ nhân đọc bài tưởng niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp của Tonneson (1)
Qua danh sách thư điện tử của nhóm nghiên cứu quốc tế về Việt Nam học, tôi nhận được báo cáo dài 18 trang (tiếng Anh) của Stein Tonneson, một học giả Na Uy có nhiều nghiên cứu về VN và khá quen thuộc với giới hàn lâm ở nước ta. Các bạn có thể google theo tên riêng của tác giả (Stein Tonneson) để biết thêm về ông, còn theo thông tin tự giới thiệu thì ông hiện đang làm việc tại Viện nghiên cứu hòa bình Oslo và Chương trình nghiên cứu hòa bình Đông Á của ĐH Uppsalla. Cũng theo thông tin do chính tác giả cung cấp (ghi trên bài viết), báo cáo này được gửi đến Học viện ngoại giao cho một hoạt động nào đó vào ngày 18/10 vừa qua, có lẽ là một tọa đàm hoặc hội thảo gì đó về Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Đã đọc về Đại tướng VNG khá nhiều trong mấy tuần qua từ khi ông qua đời, tôi không thực sự quan tâm lắm đến báo cáo này, và cũng không nghĩ là mình sẽ tìm được thêm thông tin gì mới từ bài viết. Không những thế, cái tựa của báo cáo còn gây cho tôi ít nhiều phản cảm, vì nó có nhắc đến từ "hòa bình", trong khi chủ đề của bài viết là một vị tướng gắn liền với những chiến tích lừng lẫy với sự thiệt hại không hề nhỏ về nhân mạng. Nguyên văn cái tựa như sau: Vo Nguyen Giap in memoriam: People's war and peace - Tưởng niệm Võ Nguyên Giáp: Chiến tranh và hòa bình (của) nhân dân.
Trước khi đọc bài báo, tôi đã nghĩ rằng có lẽ bài báo muốn bênh vực tướng Giáp về những hy sinh, mất mát trong chiến tranh, theo cái kiểu mà ở VN ta hay nghe, đó là: "muốn có hòa bình, phải chuẩn bị chiến tranh", như thể chiến tranh lúc nào cũng là giải pháp duy nhất đúng để giải quyết những xung đột và khác biệt. Theo tôi, VN rất cần thay đổi quan điểm này để chuyển sang một quan điểm trọng hòa bình và trọng xương máu của nhân dân hơn, giống nhiều nước khác trong khu vực và trên thế giới. Bởi rõ ràng là đạt được điều mình muốn bằng một cái giá thấp nhất thì bao giờ cũng tốt hơn là "đạt được bằng mọi giá", vì nó cho thấy sự thông minh và mức độ trưởng thành của cả một dân tộc. Tất nhiên, để có được điều này thì không một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân nào có thể tự giải quyết (dù những này có trí tuệ siêu việt cỡ nào đi chăng nữa) mà cần sự tham gia của tất cả mọi thành phần xã hội. Còn làm thế nào để có thể huy động trí tuệ của mọi người thì đấy lại là một vấn đề khác mà tôi không/chưa (thể) đề cập đến trong bài này.
Trở lại báo cáo của Tonneson, tuy không có ấn tượng gì đặc biệt khi đọc tựa bài viết, nhưng theo thói quen tôi vẫn đọc sơ qua một lần trước khi xóa thư, để chắc chắn rằng mình đã không bỏ sót thông tin gì quan trọng (một thói quen của người suốt đời sống trong trường đại học và ngập mặt trong đống sách). Liếc qua qua đến phân nửa bài viết tôi vẫn không tìm được thông tin gì mới, vì chỉ là những thông tin về cuộc đời và sự nghiệp của tướng Giáp và ai cũng biết rồi, trong đó tất nhiên quan trọng nhất vẫn là chiến dịch Điện Biên Phủ, vốn là chiến tích lớn nhất của ông. Tuy nhiên, đến gần đoạn cuối trang 10 thì tôi bắt đầu chú ý và dừng lại đọc, vì nó nhắc đến tên một nhân vật ngoại quốc nhưng rất quan trọng trong lịch sử VN, ông McNamara, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ dưới thời Tổng thống Johnson. Cái tên này khiến tôi bắt đầu đọc kỹ vào bài viết, và càng đọc thì càng có một cảm giác băn khoăn, bứt rứt. Bởi, tôi không rõ tôi có hiểu đúng tác giả hay không, nhưng dường như tất cả thông điệp của bài viết chỉ là như thế này thôi: Việt Nam, mà đại diện là tướng Giáp, dường như vẫn chẳng rút ra được điều gì từ cuộc chiến đau thương ấy.
Vâng, trong bài viết của mình để tưởng niệm tướng Giáp, ngoài phân nửa bài đầu tiên nhắc đến thân thế và sự nghiệp của vị đại tướng lừng danh này, thì tác giả đã dành hết phần còn lại của bài viết để viết về một cuộc gặp gỡ lịch sử giữa hai con người từng là thù địch của nhau trên chiến trường VN trước đó ba mươi năm. Trước khi cho hai nhân vật này gặp nhau trong cuộc gặp "không tiền khoáng hậu" này, Tonneson có bỏ một ít thời gian để giới thiệu vắn tắt về thân thế sự nghiệp của McNamara, đặc biệt là sau khi ông này rời bỏ chức vụ Bộ trưởng quốc phòng Mỹ. Đây là những sử liệu quan trọng mà phía VN hầu như không bao giờ nhắc đến, nên tôi xin trích lại ở đây một đoạn (khá dài), đồng thời đánh dấu những chỗ cần chú ý bằng cách in đậm.
During an essential part of of the period when the heroic Giap was Minister of Defence in Hanoi, his counterpart in Washington was Robert S. McNamara, one of the twentieth century’s most tragic personalities. McNamara was not, of course, a military man. American secretaries of defence are always civilians. Yet McNamarawas someone used to command. The best period of his professional life was when he directed and reformed the Ford Motor Company using modern, scientific management techniques. His tragedy began when he was persuaded by John F. Kennedy to become one of his “best and brightest” and revolutionize the Pentagon with scientific management techniques. McNamara’s war was not a People’s War but a Computer’s War, built on rational choice theory. Victory in war should be won the same way you make a winning product for the market. make a winning product for the market. The basic idea was that any adversary will have a breaking point as far as number of casualties is concerned, no matter what kind of cause the enemy is fighting for. If a sufficient number of Vietnamese soldiers were killed, then North Vietnam and the National Liberation Front of South Vietnam would come to a breaking point where they would be willing to negotiate on American or South Vietnamese terms. This never happened, of course. When it did not, when the casualty figures just continued to increase beyond any reasonable breaking point and the enemy still continued to fight and even escalated the fighting, McNamara started to have doubts. He was a deeply moral Presbyterian, someone with a deep longing to do good, and he suffered terribly from his Vietnam failure. In the end he resigned as Secretary of Defence but dit not tell the American public why. He was too loyal to President Lyndon B. Johnson to go public with his doubts. Instead he tried to compensate for his personal failure by taking up an obvious do-good job as President of the World Bank. As such he insisted on a huge increase in loans to developing countries. He wanted to get massive amounts of people out of poverty by kickstarting economic growth. Thus he inadvertently contributed to the long debt crisis in Africa and Latin America, which stifled development for a couple of decades and was only really overcome in the 2000s, when Chinese demand led to higher prices for African raw materials.
In his old age, McNamara became an anti-war activist, and spent much of his collossal energy on digging into his own past mistakes. In his quest for redemption he made two pilgrimages to Vietnam and published two books about how badly he and America had been mistaken. During his first trip to Vietnam in 1995 he had a brief meeting with Giap, who confirmed that there had been only one attempt to shoot at US ships with torpedoes in the “Tonkin Gulf incident” in early August 1964. The alleged second attack, which prompted President Lyndon B. Johnson to seek the Tonkin Gulf Resolution (the closest that the USA came to a declaration of war), never actually took place. When McNamara learned this news from Giap, he faxed his publisher back in the United States with instructions to make a last-minute change to his first self-flagellating book In Retrospect. When Giap came back to Vietnam in 1997 with a whole team of political scientists and historians to work on his second book, he was extremely eager to once more meet his old nemesis Vo Nguyen Giap. He wanted it at first to be a private meeting but this did not work out. Perhaps Giap preferred it otherwise. Perhaps the Vietnamese Communist Party did not want Giap and McNamara to meet under four eyes. For myself and quite a few others, it was wonderful that the two former enemies were unable to meet privately since this allowed us to be present.
Nói vắn tắt, dưới mắt của tác giả thì tướng Giáp và McNamara là 2 con người hoàn toàn trái ngược nhau về niềm tin, về tính cách, và về phương pháp tiến hành cuộc chiến. Cuộc chiến của VN là một cuộc "chiến tranh nhân dân" - theo nghĩa là toàn bộ dân chúng đều được lôi vào cuộc chiến, không chỉ bộ đội chính quy, mà còn dân quân du kích, rồi người già, phụ nữ, trẻ em, và cả các tu sĩ của các tôn giáo nữa, những người mà niềm tin của họ không cho phép tham gia chính trường chứ đừng nói dến chiến tranh. Một cuộc chiến như vậy thì rõ ràng McNamara không thể nào tưởng tượng ra nổi. Với McNamara, một người đã có thành tựu lớn trong quản lý theo phương pháp khoa học, thì chiến tranh cũng là một cái gì đó hoàn toàn lý trí và cũng cần phải được quản lý theo phương pháp khoa học. Thay vì tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân, thì McNamara đã tiến hành một cuộc chiến trên máy tính, theo đó khi những tổn thất của phía VN (cộng sản) đã đạt đến một mức nào đó (breaking point, điểm gẫy) thì chắc chắn họ sẽ phải ngồi xuống bàn đàm phán và chấp nhận những điều kiện của phía Mỹ/VNCH đề ra.
Tất nhiên, như mọi người đã biết, điều đó đã không xảy ra, khi ý chí của phía VN (cộng sản) là "chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hay hơn nữa; Hà Nội, Hải Phòng, và một số thành phố có thể bị phá hủy, nhưng ta nhất định không sợ. Đến ngày chiến thắng, chúng ta sẽ ...". Breaking point vẫn đến, nhưng hóa ra nó không đến với "kẻ thù" của McNamara, mà đến với chính ông! Khi tổn thất về nhân mạng đã lên đến điểm gẫy trong tính toán của McNamara mà kẻ thù của ông vẫn nhất định không sợ, thì vị Bộ trưởng quốc phòng của đất nước to lớn này bỗng ... sợ, và ông ... từ chức. Rồi sau đó, ông hối hận, và đã cố làm rất nhiều điều để bù đắp lại những sai lầm của mình thời làm Bộ trưởng quốc phòng, và cuối cùng, khi hai nước Việt - Mỹ đã bình thường hóa quan hệ, thì ông nhất định phải gặp tướng Giáp để trao đổi trực tiếp, như hai kẻ cựu thù nhưng nay đã hòa giải, và trở thành những người bạn thân thiết, hiểu nhau.
Vâng, đó là bối cảnh của cuộc gặp gỡ lịch sử giữa McNamara và tướng Giáp vào năm 1997 mà Tonneson đã kể lại như điểm nhấn quan trọng nhằm chuyển tải thông điệp của mình liên quan đến sự ra đi của tướng Giáp.
Xin mở ngoặc một chút ở đây: Khi đang viết những dòng này thì tôi tò mò tự hỏi, không biết phía VN có viết gì về cuộc gặp gỡ lịch sử này không nhỉ. Lên google để tìm, tôi thấy ngay bài viết này, rất đáng đọc, với những chi tiết hoàn toàn trùng khớp với những gì được nêu trong bài viết của Tonneson. Điều thú vị ở đây là tuy cùng những sự kiện khách quan, nhưng sự diễn giải của hai bên là hoàn toàn khác nhau, và khi đọc bài báo tiếng Việt viết về cuộc gặp ấy, một lần nữa tôi lại cảm nhận sâu sắc hơn thông điệp mà Tonneson đã đưa ra trong bài viết của mình: Hinh như VN không học được bài học nào cả từ cuộc chiến đau thương, mất mát ấy!
Các bạn có thể đọc bài viết tiếng Anh ở đây : https://drive.google.com/?tab=mo&authuser=0#folders/0B23GcuCxvQVBNWxYaDZTNzFxa28
và so sánh nó với bài tiếng Việt ở đây: http://news.zing.vn/Cuoc-gap-an-tuong-cua-tuong-Giap-va-McNamara-post346517.html.
(còn tiếp)
Đã đọc về Đại tướng VNG khá nhiều trong mấy tuần qua từ khi ông qua đời, tôi không thực sự quan tâm lắm đến báo cáo này, và cũng không nghĩ là mình sẽ tìm được thêm thông tin gì mới từ bài viết. Không những thế, cái tựa của báo cáo còn gây cho tôi ít nhiều phản cảm, vì nó có nhắc đến từ "hòa bình", trong khi chủ đề của bài viết là một vị tướng gắn liền với những chiến tích lừng lẫy với sự thiệt hại không hề nhỏ về nhân mạng. Nguyên văn cái tựa như sau: Vo Nguyen Giap in memoriam: People's war and peace - Tưởng niệm Võ Nguyên Giáp: Chiến tranh và hòa bình (của) nhân dân.
Trước khi đọc bài báo, tôi đã nghĩ rằng có lẽ bài báo muốn bênh vực tướng Giáp về những hy sinh, mất mát trong chiến tranh, theo cái kiểu mà ở VN ta hay nghe, đó là: "muốn có hòa bình, phải chuẩn bị chiến tranh", như thể chiến tranh lúc nào cũng là giải pháp duy nhất đúng để giải quyết những xung đột và khác biệt. Theo tôi, VN rất cần thay đổi quan điểm này để chuyển sang một quan điểm trọng hòa bình và trọng xương máu của nhân dân hơn, giống nhiều nước khác trong khu vực và trên thế giới. Bởi rõ ràng là đạt được điều mình muốn bằng một cái giá thấp nhất thì bao giờ cũng tốt hơn là "đạt được bằng mọi giá", vì nó cho thấy sự thông minh và mức độ trưởng thành của cả một dân tộc. Tất nhiên, để có được điều này thì không một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân nào có thể tự giải quyết (dù những này có trí tuệ siêu việt cỡ nào đi chăng nữa) mà cần sự tham gia của tất cả mọi thành phần xã hội. Còn làm thế nào để có thể huy động trí tuệ của mọi người thì đấy lại là một vấn đề khác mà tôi không/chưa (thể) đề cập đến trong bài này.
Trở lại báo cáo của Tonneson, tuy không có ấn tượng gì đặc biệt khi đọc tựa bài viết, nhưng theo thói quen tôi vẫn đọc sơ qua một lần trước khi xóa thư, để chắc chắn rằng mình đã không bỏ sót thông tin gì quan trọng (một thói quen của người suốt đời sống trong trường đại học và ngập mặt trong đống sách). Liếc qua qua đến phân nửa bài viết tôi vẫn không tìm được thông tin gì mới, vì chỉ là những thông tin về cuộc đời và sự nghiệp của tướng Giáp và ai cũng biết rồi, trong đó tất nhiên quan trọng nhất vẫn là chiến dịch Điện Biên Phủ, vốn là chiến tích lớn nhất của ông. Tuy nhiên, đến gần đoạn cuối trang 10 thì tôi bắt đầu chú ý và dừng lại đọc, vì nó nhắc đến tên một nhân vật ngoại quốc nhưng rất quan trọng trong lịch sử VN, ông McNamara, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ dưới thời Tổng thống Johnson. Cái tên này khiến tôi bắt đầu đọc kỹ vào bài viết, và càng đọc thì càng có một cảm giác băn khoăn, bứt rứt. Bởi, tôi không rõ tôi có hiểu đúng tác giả hay không, nhưng dường như tất cả thông điệp của bài viết chỉ là như thế này thôi: Việt Nam, mà đại diện là tướng Giáp, dường như vẫn chẳng rút ra được điều gì từ cuộc chiến đau thương ấy.
Vâng, trong bài viết của mình để tưởng niệm tướng Giáp, ngoài phân nửa bài đầu tiên nhắc đến thân thế và sự nghiệp của vị đại tướng lừng danh này, thì tác giả đã dành hết phần còn lại của bài viết để viết về một cuộc gặp gỡ lịch sử giữa hai con người từng là thù địch của nhau trên chiến trường VN trước đó ba mươi năm. Trước khi cho hai nhân vật này gặp nhau trong cuộc gặp "không tiền khoáng hậu" này, Tonneson có bỏ một ít thời gian để giới thiệu vắn tắt về thân thế sự nghiệp của McNamara, đặc biệt là sau khi ông này rời bỏ chức vụ Bộ trưởng quốc phòng Mỹ. Đây là những sử liệu quan trọng mà phía VN hầu như không bao giờ nhắc đến, nên tôi xin trích lại ở đây một đoạn (khá dài), đồng thời đánh dấu những chỗ cần chú ý bằng cách in đậm.
During an essential part of of the period when the heroic Giap was Minister of Defence in Hanoi, his counterpart in Washington was Robert S. McNamara, one of the twentieth century’s most tragic personalities. McNamara was not, of course, a military man. American secretaries of defence are always civilians. Yet McNamarawas someone used to command. The best period of his professional life was when he directed and reformed the Ford Motor Company using modern, scientific management techniques. His tragedy began when he was persuaded by John F. Kennedy to become one of his “best and brightest” and revolutionize the Pentagon with scientific management techniques. McNamara’s war was not a People’s War but a Computer’s War, built on rational choice theory. Victory in war should be won the same way you make a winning product for the market. make a winning product for the market. The basic idea was that any adversary will have a breaking point as far as number of casualties is concerned, no matter what kind of cause the enemy is fighting for. If a sufficient number of Vietnamese soldiers were killed, then North Vietnam and the National Liberation Front of South Vietnam would come to a breaking point where they would be willing to negotiate on American or South Vietnamese terms. This never happened, of course. When it did not, when the casualty figures just continued to increase beyond any reasonable breaking point and the enemy still continued to fight and even escalated the fighting, McNamara started to have doubts. He was a deeply moral Presbyterian, someone with a deep longing to do good, and he suffered terribly from his Vietnam failure. In the end he resigned as Secretary of Defence but dit not tell the American public why. He was too loyal to President Lyndon B. Johnson to go public with his doubts. Instead he tried to compensate for his personal failure by taking up an obvious do-good job as President of the World Bank. As such he insisted on a huge increase in loans to developing countries. He wanted to get massive amounts of people out of poverty by kickstarting economic growth. Thus he inadvertently contributed to the long debt crisis in Africa and Latin America, which stifled development for a couple of decades and was only really overcome in the 2000s, when Chinese demand led to higher prices for African raw materials.
In his old age, McNamara became an anti-war activist, and spent much of his collossal energy on digging into his own past mistakes. In his quest for redemption he made two pilgrimages to Vietnam and published two books about how badly he and America had been mistaken. During his first trip to Vietnam in 1995 he had a brief meeting with Giap, who confirmed that there had been only one attempt to shoot at US ships with torpedoes in the “Tonkin Gulf incident” in early August 1964. The alleged second attack, which prompted President Lyndon B. Johnson to seek the Tonkin Gulf Resolution (the closest that the USA came to a declaration of war), never actually took place. When McNamara learned this news from Giap, he faxed his publisher back in the United States with instructions to make a last-minute change to his first self-flagellating book In Retrospect. When Giap came back to Vietnam in 1997 with a whole team of political scientists and historians to work on his second book, he was extremely eager to once more meet his old nemesis Vo Nguyen Giap. He wanted it at first to be a private meeting but this did not work out. Perhaps Giap preferred it otherwise. Perhaps the Vietnamese Communist Party did not want Giap and McNamara to meet under four eyes. For myself and quite a few others, it was wonderful that the two former enemies were unable to meet privately since this allowed us to be present.
Nói vắn tắt, dưới mắt của tác giả thì tướng Giáp và McNamara là 2 con người hoàn toàn trái ngược nhau về niềm tin, về tính cách, và về phương pháp tiến hành cuộc chiến. Cuộc chiến của VN là một cuộc "chiến tranh nhân dân" - theo nghĩa là toàn bộ dân chúng đều được lôi vào cuộc chiến, không chỉ bộ đội chính quy, mà còn dân quân du kích, rồi người già, phụ nữ, trẻ em, và cả các tu sĩ của các tôn giáo nữa, những người mà niềm tin của họ không cho phép tham gia chính trường chứ đừng nói dến chiến tranh. Một cuộc chiến như vậy thì rõ ràng McNamara không thể nào tưởng tượng ra nổi. Với McNamara, một người đã có thành tựu lớn trong quản lý theo phương pháp khoa học, thì chiến tranh cũng là một cái gì đó hoàn toàn lý trí và cũng cần phải được quản lý theo phương pháp khoa học. Thay vì tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân, thì McNamara đã tiến hành một cuộc chiến trên máy tính, theo đó khi những tổn thất của phía VN (cộng sản) đã đạt đến một mức nào đó (breaking point, điểm gẫy) thì chắc chắn họ sẽ phải ngồi xuống bàn đàm phán và chấp nhận những điều kiện của phía Mỹ/VNCH đề ra.
Tất nhiên, như mọi người đã biết, điều đó đã không xảy ra, khi ý chí của phía VN (cộng sản) là "chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hay hơn nữa; Hà Nội, Hải Phòng, và một số thành phố có thể bị phá hủy, nhưng ta nhất định không sợ. Đến ngày chiến thắng, chúng ta sẽ ...". Breaking point vẫn đến, nhưng hóa ra nó không đến với "kẻ thù" của McNamara, mà đến với chính ông! Khi tổn thất về nhân mạng đã lên đến điểm gẫy trong tính toán của McNamara mà kẻ thù của ông vẫn nhất định không sợ, thì vị Bộ trưởng quốc phòng của đất nước to lớn này bỗng ... sợ, và ông ... từ chức. Rồi sau đó, ông hối hận, và đã cố làm rất nhiều điều để bù đắp lại những sai lầm của mình thời làm Bộ trưởng quốc phòng, và cuối cùng, khi hai nước Việt - Mỹ đã bình thường hóa quan hệ, thì ông nhất định phải gặp tướng Giáp để trao đổi trực tiếp, như hai kẻ cựu thù nhưng nay đã hòa giải, và trở thành những người bạn thân thiết, hiểu nhau.
Vâng, đó là bối cảnh của cuộc gặp gỡ lịch sử giữa McNamara và tướng Giáp vào năm 1997 mà Tonneson đã kể lại như điểm nhấn quan trọng nhằm chuyển tải thông điệp của mình liên quan đến sự ra đi của tướng Giáp.
Xin mở ngoặc một chút ở đây: Khi đang viết những dòng này thì tôi tò mò tự hỏi, không biết phía VN có viết gì về cuộc gặp gỡ lịch sử này không nhỉ. Lên google để tìm, tôi thấy ngay bài viết này, rất đáng đọc, với những chi tiết hoàn toàn trùng khớp với những gì được nêu trong bài viết của Tonneson. Điều thú vị ở đây là tuy cùng những sự kiện khách quan, nhưng sự diễn giải của hai bên là hoàn toàn khác nhau, và khi đọc bài báo tiếng Việt viết về cuộc gặp ấy, một lần nữa tôi lại cảm nhận sâu sắc hơn thông điệp mà Tonneson đã đưa ra trong bài viết của mình: Hinh như VN không học được bài học nào cả từ cuộc chiến đau thương, mất mát ấy!
Các bạn có thể đọc bài viết tiếng Anh ở đây : https://drive.google.com/?tab=mo&authuser=0#folders/0B23GcuCxvQVBNWxYaDZTNzFxa28
và so sánh nó với bài tiếng Việt ở đây: http://news.zing.vn/Cuoc-gap-an-tuong-cua-tuong-Giap-va-McNamara-post346517.html.
(còn tiếp)
BLOG ANH VU
Subscribe to:
Posts (Atom)
