Tuesday, November 12, 2013

Nhân vụ án Nguyễn Thanh Chấn, nghĩ đến Quốc hội & cuộc ép cung dân tộc

Nhân vụ án Nguyễn Thanh Chấn, nghĩ đến Quốc hội & cuộc ép cung dân tộc

Hạ Đình Nguyên

Sau 10 năm ngồi tù với cái “án giết người”, ông Nguyễn Thanh Chấn được trả tự do, vì kẻ giết người thật sự – Lý Nguyễn Chung – tự ra đầu thú, mọi sự đã phơi bày ra ánh sáng.
Án oan sai của nền tư pháp thì quốc gia nào cũng có, nhưng đặc điểm ở đây là sự ép cung quá điển hình mà lại đồng bộ.
Ngày 15/8/2003 định mệnh ấy, khi người nông dân tên Chấn đi lấy nước, đúng lúc có người phát hiện xác phụ nữ tên H ở cùng thôn, bị giết hại. Thế là ông trở thành kẻ giết người sau những màn ép cung, trên cơ sở vết dấu chân gần giống nhau.
Vì ngu dốt và đúng hơn, vì bệnh thành tích của điều tra viên đã chuyển hóa thành lập trường kiên định, họ dùng bạo lực để ép cung, bất kể sự phân trần phải quấy, buộc ông Chấn phải nhận tội, phải nói theo, làm theo chỉ dẫn và còn tập cho ông thuần thục những động tác để tái diễn hiện trường y như thật! (Có lẽ giống người Bắc Triều Tiên khóc thương lãnh tụ).
Hai phiên tòa sơ thẩm, rồi phúc thẩm vẫn thản nhiên kết luận y án “giết người”. Vì ngu dốt, vì thành tích của hệ thống tòa lại đã chuyển hóa thành lập trường kiên định?

Vợ ông 10 năm kêu oan cho chồng. Nhưng những lá đơn khiếu nại của người đàn bà khốn khổ vẫn bị gạt bỏ, không đếm xỉa tới. Tất cả họ đều kiên định lập trường!
Cái ngu dốt, cái thành tích để tiến lên cõi quan trường bây giờ đã nâng lên một tầng cao và trở thành niềm tin. Và niềm tin đó được cùng nhau củng cố trong một hệ thống. Sự lừa dối đã mặc bộ y phục công lý hoàn chỉnh, sự bất lương thì ẩn dưới niềm tin.
Bất ngờ 10 năm sau, cái luận lý biện chứng hùng hồn như đinh đóng cột vang lên ở các chốn công đường, bây giờ bỗng đổ vỡ ra từng mảnh. Có lấp liếm sửa thế nào thì mọi chuyện cũng đã bay qua, ông Chấn đã 10 năm cơ thể hao mòn, sinh lực cạn kiệt, gia đình điên đảo. Cái tụt hậu toàn diện ấy của gia đình ông không thể gỡ nổi.
Ông Vũ Đức Khiển, nguyên chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội, đòi hỏi phải tiến hành thủ tục để minh oan! Không, vì chưa đủ. Đúng ra phải là lời thú tội chân thành làm gương cho kẻ khác! Và lời thú tội phải diễn ra trên diện rộng, toàn ngành tư pháp. Vì hệ thống ấy đã tạo nên những con người không đủ lương thiện và không đủ chuyên môn. Cái cốt cách thiển cận không mang nổi sự lếu láo của “hồng và chuyên”.
Thử lắng nghe tiếng quanh co phát ra từ bản chất, dù sau mọi đổ vỡ:
Giờ bị cáo oan sai thì trách nhiệm là do Quốc hội chứ biết sao được?”. Và: “Chúng tôi xử sơ thẩm mà cấp phúc thẩm y án thì chứng tỏ có đủ căn cứ kết tội bị cáo về tội giết người. Cấp phúc thẩm tuyên y án có nghĩa chúng tôi xử đúng rồi và chúng tôi cũng không có trách nhiệm gì. Giờ vụ án có sai thì trách nhiệm thuộc về cấp phúc thẩm của tòa tối cao”.
Ai có thể lay chuyển để khơi dậy lương tri của những con người như thế? Và để làm gì chứ? Họ nói họ đã quên rồi, họ đã chuyển “công tác” khác… Thật đơn giản! Sở Khanh dù lẩn trốn hay ngồi tù, Tú Bà vẫn y án đòn roi.
Cái oan của Nguyễn Thanh Chấn, cũng đơn giản như cái sai của Dương Chí Dũng, vốn là điển hình trong muôn một của ngành Tư pháp và ngành Hành pháp, vì có cùng một nguồn gốc, và hậu quả như nhau. Vì ông Chấn có ra tù, ông Dũng có vào tù, thì đau khổ ông kia cũng đã nhận, tiền ngàn tỉ của quốc gia cũng đã mất.
Và ngành Lập pháp – các ông bà nghị hôm nay đang hùng hổ trong Quốc hội – tiếp tục kiên định lập trường thông qua dự thảo sửa đổi Hiến pháp – một bản án có tính thời đại trên hồ sơ ép cung dân tộc – đã được sắp đặt và dàn dựng, mặc cho đơn khiếu nại, phản đối và tiếng gào thét kêu oan của dân chúng diễn ra khắp nơi. (*)
Mai kia, đất nước có tụt tận đáy loạn ly, thì họ – những kẻ bạo hành ép cung dân tộc – vẫn ngồi trong căn phòng nhỏ của ngôi nhà to của mình, mắt mờ chân run, chẳng đáng để làm gì (như đã và đang thấy)!
Và họ chẳng cần quan tâm hậu thế phê phán ra sao, mụ mẫm ngồi trơ ra đấy, dù lịch sử có ghi lại vết nhơ.
Họ vẫn sắp nhấn nút “y án”!
Một bản án định mệnh của dân tộc!
H. Đ. N.
9–11–2013
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.
(*) Trích vài dòng “đơn khiếu nại” và cảnh báo tiêu biểu:
Kiến nghị 72: “Nếu hiến pháp thực sự do nhân dân quyết định thì việc định trước vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội thuộc về một tổ chức chính trị hay một tầng lớp là trái với quyền làm chủ của nhân dân, quyền con người, quyền công dân và ngược với bản chất của một nhà nước pháp quyền.”
Nguyễn Sĩ Dũng (trả lời phỏng vấn của báo Tuổi trẻ, ngày 04/11): “Chúng ta đang sống trong một thế giới đã thay đổi. Sống theo cách cũ, vì vậy sẽ không có tương lai. Điều đáng lưu ý là không chỉ thế giới đã rất khác, mà những người dân cũng đã rất khác. Tôi có cảm giác là hàng chục triệu người dân đã hội nhập với thế giới hiện đại nhanh chóng và hiệu quả hơn so với nhiều thiết chế đang vận hành nền quản trị quốc gia của chúng ta.”

Tuesday, October 29, 2013

GS Trần Phương: CNXH đưa ra chỉ để bịp thiên hạ!


GS Trần Phương: CNXH đưa ra chỉ để bịp thiên hạ!



Giáo sư Trần Phương, cựu phó Thủ tướng Chính phủ
Lời dẫn của Huỳnh Ngọc Chênh: Tôi được vinh dự nghe giáo sư, phó thủ tướng Trần Phương nói chuyện thời sự một lần. Đó là vào năm 1987, khi tôi là giáo viên trường Phan Chu Trinh Đà Nẵng. Nhân dịp ông vào công tác Đà Nẵng, ban giám hiệu trường Phan Chu Trinh đã mời ông về nói chuyện cho toàn thể giáo viên nghe.

Lúc đó tôi đang rất hoang mang về "con đường quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội" thì qua bài nói chuyện, ông đã khai sáng cho tôi rất nhiều. Một số nội dung trong bài phát biểu dưới đây là những điều tôi đã được nghe hồi đó, dĩ nhiên, dưới cách nói bóng bẩy, rào đón hơn chứ không thẳng thừng như góp ý với đảng.

Đây là phát biểu của GS Trần Phương, cựu Phó Thủ tướng Chính phủ, cựu Bộ trưởng Bộ Nội Thương (1981-1982), cựu ủy viên Trung ương Đảng, hiện là Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam. Phát biểu này của GS Trần Phương tại hội thảo góp ý cho văn kiện Đại hội 11 trước đây, do có liên quan tới phát phiểu gần đây của TBT Nguyễn Phú Trọng về tình hình xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở Việt Nam, xin được giới thiệu cùng độc giả.

GS Trần Phương đã phát biểu như sau: "Thế tôi hỏi ông là: bây giờ ông nói là nền tảng của ông là chủ nghĩa Mác – Lênin thì chủ nghĩa Mác – Lênin là cái gì đây nhỉ? Thế ông không nói đến chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử đâu, cái chuyện đó xa xôi, với các nhà học thuật thôi, có phải không? Thế bây giờ chủ nghĩa Mác – Lênin là cái gì, mà ông nói là nền tảng của ông?

Chúng ta đã trải qua 70 năm (người Việt Nam thì 20 năm) ông xây dựng CNXH theo nguyên tắc mà ông Mác đưa ra, là gì? Chuyên chính vô sản về mặt chính quyền. Thứ hai về mặt kinh tế thì lấy chế độ công hữu làm nền tảng đấy, thu hẹp và xóa dần cái kinh tế tư nhân và thị trường tự do, rồi phân phối theo lao động v.v… Nhưng mà bây giờ ông xem lại tất cả những nguyên tắc đó ông có làm không? Tôi nghĩ ông từ chối rồi còn gì nữa. Có phải không? Khi các ông đổi mới... À, người Việt Nam thì giỏi cái chỗ rằng là ông dùng danh từ để ông lẩn trốn. Ông nói là ông 'đổi mới' nhưng thực ra ông 'thụt lùi'.

Tôi có lần viết cho lời nói đầu một bài viết của anh Đặng Phong về tư duy kinh tế. Tôi nói đổi mới thực chất là ông lùi lại. Ông tiến lên chế độ công hữu như bây giờ đó thì ông phải lùi lại rồi. Ông từ chối cái kinh tế tư nhân nhưng ông phải thừa nhận cái kinh tế tư nhân, thừa nhận kinh tế năm thành phần, nhiều thành phần, thậm chí thừa nhận cả chủ nghĩa tư bản. Thế là ông thụt lùi chứ.

Tôi không gọi là thụt lùi mà là bởi vì cái thời kỳ mà ông xây dựng CNXH từ năm 60 cho đến năm 80 là ông theo cái tư tưởng tả khuynh. Ông theo một cái tư tưởng giáo điều mà cái điều này tôi nói là ông Mác sai, ông Mác sai dự kiến là CNXH, với những đặc trưng đó, là dự kiến của ông Mác là sai. Ông Mác có nhiều cái dự kiến phải nói là thiên tài, nhưng riêng dự kiến là những đặc trưng của CNXH là ông Mác sai. Nhưng mà chúng ta không thừa nhận rằng ông ý sai. Chúng ta cứ làm giả vờ như là ta vẫn theo ông Mác. Thì xin lỗi, ông giả vờ ông Mác thì ông đã thay đổi hành động của ông rồi.

Cho nên cái đổi mới của ông nó thực chất là ông lùi lại chứ không phải là ông tiến lên. Lùi lại chế độ sở hữu tư nhân. Ngay cả chế động công hữu ông cũng phải cổ phần hóa bớt đi. Vì công hữu đó, ông có hiệu quả đâu. Trừ mấy thằng to tổ bố thì không ai làm nổi, ông dầu khí này, ông điện lực này v.v… thế còn nói chung một loạt các cái công hữu của ông đó là nó làm bố láo, nó tiêu tốn đất đai và vốn của nhà nước rất nhiều. Nhưng mà ông cứ ôm lấy nó để tưởng là CNXH.

Cho nên tôi nói rằng là chúng ta đổi mới mà thực ra là chúng ta lùi lại chứ không phải đổi mới. Đổi mới là so với những cái chúng ta đã làm sai 20 năm thì gọi là đổi mới. Ông đổi mới theo kiểu đó, theo ông là sai 20 năm rồi, bây giờ ông đổi mới thì ông phải sửa cái sai ấy đi. Nhưng thực chất ông lùi lại. Vâng, vâng, ông trở lại. Bởi vì thế này, thực ra tôi nói là Mác nói là triệt tiêu cái chế độ tư hữu, tôi nói là luận điểm của cụ là sai. Bởi vì 70 năm Liên Xô và Đông Âu, Đông Âu thì 40 năm thôi, ông triệt tiêu cái chế độ tư hữu. Thế là nền kinh tế mất động lực, mất động lực, ông phải lùi lại, thực chất ra ông lùi lại đấy chứ. Việt Nam ta cũng phải lùi lại đấy chứ.

Cho nên tôi nói là chúng ta … đây thì không biết là góp ý kiến rồi để rồi người ta như thế nào, nhưng ý tôi thì thế này này, ông đừng tiếp tục nói như bịp người ta! Tôi nói ví dụ như bây giờ, là vì ông nói là nền tảng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác – Lênin cho nên rằng tất cả các trường ông đều bắt nó dạy chủ nghĩa Mác – Lênin. Lắm lúc tôi bảo: trời đất ơi, ba cái thằng trẻ con này đó, nó học một mẩu của chủ nghĩa Mác – Lênin thì nó biết cái gì?! Nhưng mà cứ vẫn phải bắt buộc làm như thế.

Còn bây giờ trong cái cương lĩnh này, trong cái gì này… thì ông đều nói chủ nghĩa Mác – Lênin và ông đều nói XHCN, nhưng tôi hỏi các anh đây, các anh đây là người đọc sách nhiều nhất rồi đây. Tôi hỏi ông CNXH bây giờ là cái gì? Tôi đố ông trả lời được đấy?!

Cái điều mà ông Mác nói về CNXH là chế độ công hữu chiếm địa vị thống trị. Còn ông, thu hẹp cái sở hữu tư nhân đi đến xóa bỏ sở hữu tư nhân, rồi thị trường tự do. Ông làm lộn ngược rồi. Thế bây giờ cái CNXH của ông là cái gì đây? Thật ra mà nói, chúng ta nói và chúng ta biết là chúng ta bịp người khác!

Đến tôi bây giờ, tôi cũng không biết cái CNXH mà chúng ta sẽ đi là cái CNXH gì đây? Có nhiều người bảo rằng thôi thì ta cứ đành lấy khẩu hiệu là gì, "dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng, văn minh", đó là CNXH. Tôi xin lỗi ông. Đấy không phải CNXH!

Xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, tôi hỏi anh: anh đã bằng thằng Thụy Điển và thằng Na Uy chưa? Nó không xã hội dân chủ, cũng công bằng mà công bằng hơn ông, mà văn minh thì tất nhiên là hơn ông rồi. Thế thì cái CNXH mà anh bảo rằng là lấy cái khẩu hiệu "dân giàu, nước mạnh" mấy cái câu đó mà thay thế cho CNXH, đấy là CNXH của tớ đấy! Tôi nghĩ không đúng. Ông bịp thiên hạ với cái chữ CNXH của ông!

Đại hội X, tôi đã nói trước Bộ Chính trị trước khi các anh đưa … bởi vì thế này này: tôi được cái ưu điểm là người ta mời mình vì mình là một thằng lão thành, lâu năm quá rồi mà chưa chết cho nên người ta cũng mời mình phát biểu. Nhưng tôi nói là các anh định nghĩa cho tôi nghe là cái CNXH mà chúng ta chủ trương đây là nó là cái gì? Cũng không ai trả lời. Rồi tôi hỏi là: ông nói định hướng cái XHCN thì cái định hướng đó là cái gì? Tôi xin lỗi các nhà lý luận ngồi đây, là ông cũng không trả lời được. Có phải không ạ? Ông nói về định hướng XHCN thì định hướng của ông là cái gì đây, ông nói tôi nghe? Ông bảo là xóa đói giảm nghèo. Xin lỗi ông, cả thế giới nó làm. Mà Liên hợp quốc nó đang giúp ông hẳn cái việc ấy đó. Thế chả nhẽ nó giúp ông xây dựng XHCN nhà ông đấy à? Xóa đói giảm nghèo, giỏi lắm thì ông nói được cái định hướng XHCN là xóa đói giảm nghèo, nhưng mà ông còn thua xa ba cái thằng tư bản.

Cho nên tôi cảm thấy là … viết thế nào thì tôi chưa nói, nhưng đại để là ông đừng đao to búa lớn quá. Lúc nào cũng là 'nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin', lúc nào cũng là 'định hướng XHCN' rồi 'xây dựng CNXH' và thậm chí bây giờ có chỗ ông còn viết là 'chúng ta đang quá độ lên CNXH'!"

(Tin không lề)

Wednesday, October 23, 2013

Vài suy nghĩ nhân đọc bài tưởng niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp của Tonneson (1)


Vài suy nghĩ nhân đọc bài tưởng niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp của Tonneson (1)
Qua danh sách thư điện tử của nhóm nghiên cứu quốc tế về Việt Nam học, tôi nhận được báo cáo dài 18 trang (tiếng Anh) của Stein Tonneson, một học giả Na Uy có nhiều nghiên cứu về VN và khá quen thuộc với giới hàn lâm ở nước ta. Các bạn có thể google theo tên riêng của tác giả (Stein Tonneson) để biết thêm về ông, còn theo thông tin tự giới thiệu thì ông hiện đang làm việc tại Viện nghiên cứu  hòa bình Oslo và Chương trình nghiên cứu hòa bình Đông Á của ĐH Uppsalla. Cũng theo thông tin do chính tác giả cung cấp (ghi trên bài viết), báo cáo này được gửi đến Học viện ngoại giao cho một hoạt động nào đó vào ngày 18/10 vừa qua, có lẽ là một tọa đàm hoặc hội thảo gì đó về Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Đã đọc về Đại tướng VNG khá nhiều trong mấy tuần qua từ khi ông qua đời, tôi không thực sự quan tâm lắm đến báo cáo này, và cũng không nghĩ là mình sẽ tìm được thêm thông tin gì mới từ bài viết. Không những thế, cái tựa của báo cáo còn gây cho tôi ít nhiều phản cảm, vì nó có nhắc đến từ "hòa bình", trong khi chủ đề của bài viết là một vị tướng gắn liền với những chiến tích lừng lẫy với sự thiệt hại không hề nhỏ về nhân mạng. Nguyên văn cái tựa như sau: Vo Nguyen Giap in memoriam: People's war and peace - Tưởng niệm Võ Nguyên Giáp: Chiến tranh và hòa bình (của) nhân dân.

Trước khi đọc bài báo, tôi đã nghĩ rằng có lẽ bài báo muốn bênh vực tướng Giáp về những hy sinh, mất mát trong chiến tranh, theo cái kiểu mà ở VN ta hay nghe, đó là: "muốn có hòa bình, phải chuẩn bị chiến tranh", như thể chiến tranh lúc nào cũng là giải pháp duy nhất đúng để giải quyết những xung đột và khác biệt. Theo tôi, VN rất cần thay đổi quan điểm này để chuyển sang một quan điểm trọng hòa bình và trọng xương máu của nhân dân hơn, giống nhiều nước khác trong khu vực và trên thế giới. Bởi rõ ràng là đạt được điều mình muốn bằng một cái giá thấp nhất thì bao giờ cũng tốt hơn là "đạt được bằng mọi giá", vì nó cho thấy sự thông minh và mức độ trưởng thành của cả một dân tộc. Tất nhiên, để có được điều này thì không một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân nào có thể tự giải quyết (dù những này có trí tuệ siêu việt cỡ nào đi chăng nữa) mà cần sự tham gia của tất cả mọi thành phần xã hội. Còn làm thế nào để có thể huy động trí tuệ của mọi người thì đấy lại là một vấn đề khác mà tôi không/chưa (thể) đề cập đến trong bài này.

Trở lại báo cáo của Tonneson, tuy không có ấn tượng gì đặc biệt khi đọc tựa bài viết, nhưng theo thói quen tôi vẫn đọc sơ qua một lần trước khi xóa thư, để chắc chắn rằng mình đã không bỏ sót thông tin gì quan trọng (một thói quen của người suốt đời sống trong trường đại học và ngập mặt trong đống sách). Liếc qua qua đến phân nửa bài viết tôi vẫn không tìm được thông tin gì mới, vì chỉ là những thông tin về cuộc đời và sự nghiệp của tướng Giáp và ai cũng biết rồi, trong đó tất nhiên quan trọng nhất vẫn là chiến dịch Điện Biên Phủ, vốn là chiến tích lớn nhất của ông. Tuy nhiên, đến gần đoạn cuối trang 10 thì tôi bắt đầu chú ý và dừng lại đọc, vì nó nhắc đến tên một nhân vật ngoại quốc nhưng rất quan trọng trong lịch sử VN, ông McNamara, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ dưới thời Tổng thống Johnson. Cái tên này khiến tôi bắt đầu đọc kỹ vào bài viết, và càng đọc thì càng có một cảm giác băn khoăn, bứt rứt. Bởi, tôi không rõ tôi có hiểu đúng tác giả hay không, nhưng dường như tất cả thông điệp của bài viết chỉ là như thế này thôi: Việt Nam, mà đại diện là tướng Giáp, dường như vẫn chẳng rút ra được điều gì từ cuộc chiến đau thương ấy.

Vâng, trong bài viết của mình để tưởng niệm tướng Giáp, ngoài phân nửa bài đầu tiên nhắc đến thân thế và sự nghiệp của vị đại tướng lừng danh này, thì tác giả đã dành hết phần còn lại của bài viết để viết về một cuộc gặp gỡ lịch sử giữa hai con người từng là thù địch của nhau trên chiến trường VN trước đó ba mươi năm. Trước khi cho hai nhân vật này gặp nhau trong cuộc gặp "không tiền khoáng hậu" này, Tonneson có bỏ một ít thời gian để giới thiệu vắn tắt về thân thế sự nghiệp của McNamara, đặc biệt là sau khi ông này rời bỏ chức vụ Bộ trưởng quốc phòng Mỹ. Đây là những sử liệu quan trọng mà phía VN hầu như không bao giờ nhắc đến, nên tôi xin trích lại ở đây một đoạn (khá dài), đồng thời đánh dấu những chỗ cần chú ý bằng cách in đậm.

During an essential part of of the period when the heroic Giap was Minister of  Defence in Hanoi, his counterpart in Washington was Robert S. McNamara, one of the twentieth century’s most tragic personalities. McNamara was not, of course, a military man. American secretaries of defence are always civilians. Yet McNamarawas someone used to command. The best period of his professional life was when he directed and reformed the Ford Motor Company using modern, scientific management techniques. His tragedy began when he was persuaded by John F. Kennedy to become one of his “best and brightest” and revolutionize the Pentagon with scientific management techniques. McNamara’s war was not a People’s War but a Computer’s War, built on rational choice theory. Victory in war should be won the same way you make a winning product for the market. make a winning product for the market. The basic idea was that any adversary will have a breaking point as far as number of casualties is concerned, no matter what kind of cause the enemy is fighting for. If a sufficient number of Vietnamese soldiers were killed, then North Vietnam and the National Liberation Front of South Vietnam would come to a breaking point where they would be willing to negotiate on American or South Vietnamese terms. This never happened, of course. When it did not, when the casualty figures just continued to increase beyond any reasonable breaking point and the enemy still continued to fight and even escalated the fighting, McNamara started to have doubts. He was a deeply moral Presbyterian, someone with a deep longing to do good, and he suffered terribly from his Vietnam failure. In the end he resigned as Secretary of Defence but dit not tell the American public why. He was too loyal to President Lyndon B. Johnson to go public with his doubts. Instead he tried to compensate for his personal failure by taking up an obvious do-good job as President of the World Bank. As such he insisted on a huge increase in loans to developing countries. He wanted to get massive amounts of people out of poverty by kickstarting economic growth. Thus he inadvertently contributed to the long debt crisis in Africa and Latin America, which stifled development for a couple of decades and was only really overcome in the 2000s, when Chinese demand led to higher prices for African raw materials.

In his old age, McNamara became an anti-war activist, and spent much of his collossal energy on digging into his own past mistakes. In his quest for redemption he made two pilgrimages to Vietnam and published two books about how badly he and America had been mistaken. During his first trip to Vietnam in 1995 he had a brief meeting with Giap, who confirmed that there had been only one attempt to shoot at US ships with torpedoes in the “Tonkin Gulf incident” in early August 1964. The alleged second attack, which prompted President Lyndon B. Johnson to seek the Tonkin Gulf Resolution (the closest that the USA came to a declaration of war), never actually took place. When McNamara learned this news from Giap, he faxed his publisher back in the United States with instructions to make a last-minute change to his first self-flagellating book In Retrospect. When Giap came back to Vietnam in 1997 with a whole team of political scientists and historians to work on his second book, he was extremely eager to once more meet his old nemesis Vo Nguyen Giap. He wanted it at first to be a private meeting but this did not work out. Perhaps Giap preferred it otherwise. Perhaps the Vietnamese Communist Party did not want Giap and McNamara to meet under four eyes. For myself and quite a few others, it was wonderful that the two former enemies were unable to meet privately since this allowed us to be present.

Nói vắn tắt, dưới mắt của tác giả thì tướng Giáp và McNamara là 2 con người hoàn toàn trái ngược nhau về niềm tin, về tính cách, và về phương pháp tiến hành cuộc chiến. Cuộc chiến của VN là một cuộc "chiến tranh nhân dân" - theo nghĩa là toàn bộ dân chúng đều được lôi vào cuộc chiến, không chỉ bộ đội chính quy, mà còn dân quân du kích, rồi người già, phụ nữ, trẻ em, và cả các tu sĩ của các tôn giáo nữa, những người mà niềm tin của họ không cho phép tham gia chính trường chứ đừng nói dến chiến tranh. Một cuộc chiến như vậy thì rõ ràng McNamara không thể nào tưởng tượng ra nổi. Với McNamara, một người đã có thành tựu lớn trong quản lý theo phương pháp khoa học, thì chiến tranh cũng là một cái gì đó hoàn toàn lý trí và cũng cần phải được quản lý theo phương pháp khoa học. Thay vì tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân, thì McNamara đã tiến hành một cuộc chiến trên máy tính, theo đó khi những tổn thất của phía VN (cộng sản) đã đạt đến một mức nào đó (breaking point, điểm gẫy) thì chắc chắn họ sẽ phải ngồi xuống bàn đàm phán và chấp nhận những điều kiện của phía Mỹ/VNCH đề ra.

Tất nhiên, như mọi người đã biết, điều đó đã không xảy ra, khi ý chí của phía VN (cộng sản) là "chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hay hơn nữa; Hà Nội, Hải Phòng, và một số thành phố có thể bị phá hủy, nhưng ta nhất định không sợ. Đến ngày chiến thắng, chúng ta sẽ ...". Breaking point vẫn đến, nhưng hóa ra nó không đến với "kẻ thù" của McNamara, mà đến với chính ông! Khi tổn thất về nhân mạng đã lên đến điểm gẫy trong tính toán của McNamara mà kẻ thù của ông vẫn nhất định không sợ, thì vị Bộ trưởng quốc phòng của đất nước to lớn này bỗng ... sợ, và ông ... từ chức. Rồi sau đó, ông hối hận, và đã cố làm rất nhiều điều để bù đắp lại những sai lầm của mình thời làm Bộ trưởng quốc phòng, và cuối cùng, khi hai nước Việt - Mỹ đã bình thường hóa quan hệ, thì ông nhất định phải gặp tướng Giáp để trao đổi trực tiếp, như hai kẻ cựu thù nhưng nay đã hòa giải, và trở thành những người bạn thân thiết, hiểu nhau.

Vâng, đó là bối cảnh của cuộc gặp gỡ lịch sử giữa McNamara và tướng Giáp vào năm 1997 mà Tonneson đã kể lại như điểm nhấn quan trọng nhằm chuyển tải thông điệp của mình liên quan đến sự ra đi của tướng Giáp.

Xin mở ngoặc một chút ở đây: Khi đang viết những dòng này thì tôi tò mò tự hỏi, không biết phía VN có viết gì về cuộc gặp gỡ lịch sử này không nhỉ. Lên google để tìm, tôi thấy ngay bài viết này, rất đáng đọc, với những chi tiết hoàn toàn trùng khớp với những gì được nêu trong bài viết của Tonneson. Điều thú vị ở đây là tuy cùng những sự kiện khách quan, nhưng sự diễn giải của hai bên là hoàn toàn khác nhau, và khi đọc bài báo tiếng Việt viết về cuộc gặp ấy, một lần nữa tôi lại cảm nhận sâu sắc hơn thông điệp mà Tonneson đã đưa ra trong bài viết của mình: Hinh như VN không học được bài học nào cả từ cuộc chiến đau thương, mất mát ấy!

Các bạn có thể đọc bài viết tiếng Anh ở đây :  https://drive.google.com/?tab=mo&authuser=0#folders/0B23GcuCxvQVBNWxYaDZTNzFxa28

và so sánh nó với bài tiếng Việt ở đây: http://news.zing.vn/Cuoc-gap-an-tuong-cua-tuong-Giap-va-McNamara-post346517.html.

(còn tiếp)
BLOG ANH VU
 
 

Saturday, September 21, 2013

Sự tham gia chính trị của dân chúng


000_Hkg8838402-305.jpg
Một phụ nữ buôn bán hải sản tại một chợ ở Hà Nội đang sử dụng iPad hôm 26/7/2013
AFP pho

Sự tham gia chính trị của dân chúng
Kính Hòa, phóng viên RFA

Một phụ nữ buôn bán hải sản tại một chợ ở Hà Nội đang sử dụng iPad hôm 26/7/2013
AFP photo
Sự phát triển của công nghệ thông tin đã tạo điều kiện cho dân chúng Việt nam tham gia vào đời sống chính trị của quốc gia. Sự tham gia như thế là cần thiết cho một xã hội văn minh mà đảng cộng sản tuyên bố hướng tới.
Việc tranh luận về điều khoản số 258, bộ luật hình sự Việt Nam cho thấy một sự quan tâm đến chính trị của công chúng Việt Nam đã gia tăng đáng kể. Sự quan tâm này được phát triển nhanh chóng nhờ vào công nghệ thông tin với các bloggers, và mạnh mẽ hơn nữa trong vài năm gần đây với mạng xã hội. Nếu không có các điều kiện này thì ắt hẳn những bình luận, những thông tin, những quan tâm tới chính trị quốc gia không nở rộ như trong thời gian qua, vì các định chế chính trị ở Việt Nam không cho phép điều đó.


Một tác giả người Mỹ là ông Harold Lasswell trong một tác phẩm của mình về chính trị viết cách đây rất lâu, năm 1936, đề cập đến chính trị như là một cuộc tranh giành giữa những người thuộc tầng lớp tinh hoa.
Thập niên 30 này cũng chứng kiến trận thanh lọc khổng lồ do Stalin thực hiện, trong một mô hình chính trị Soviet, hoài thai từ các ý tưởng của Marx và Lenin, rằng nền chính trị phải được hai giai cấp đông đảo nhất của xã hội là công nhân và nông dân thực hiện một cách chuyên chính (chuyên chế.)
Sau thế chiến thứ hai, Harold bổ sung những ý tưởng mới trong cách nhìn về chính trị, trong đó ông nghiên cứu rộng hơn đến những tác nhân như văn hóa và con người tác động lên nền chính trị. Cùng thời gian đó, mô hình Soviet được mở rộng sang Đông Âu, Trung quốc,…với sự khẳng định mạnh mẽ nền chuyên chính, mà sau đó đôi khi được gọi tên là nền dân chủ tập trung. Và điều đáng nói là trong mô hình này cuối cùng cũng hình thành một tầng lớp tinh hoa mà Milovan Djilas, nhân vật ly khai từng đứng hàng thứ hai của đảng cộng sản Nam Tư, gọi là giai cấp mới thống trị bộ phận còn lại của xã hội..
Sự tác động của văn hóa và con người trong các mô hình chính trị phương tây càng phát triển hơn nữa với khái niệm xã hội dân sự mà Joseph Nye cho rằng, làm cho quyền lực tản ra khỏi chính quyền trung ương. Trong khi đó, mô hình thực nghiệm cộng sản đã sụp đổ, vết tích của nó tuy vậy vẫn tồn tại ở vài quốc gia mà Việt Nam là một trong số đó.
Mặc dầu đã chấp nhận kinh tế thị trường, nền chính trị Việt Nam vẫn được đảng cộng sản cầm quyền tuyên bố là một nền dân chủ tập trung, không chấp nhận các nhóm xã hội tự do, và do vậy sự tham gia vào chính trị của công dân vô cùng hạn chế. Hai tổ chức mang màu sắc xã hội là Quốc Hội, và Mặt Trận Tổ quốc thật sự vẫn nằm dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Nhưng công nghệ thông tin đang làm thay đổi nhiều khía cạnh của nền dân chủ tập trung ấy.
Cây ngay không sợ gió
Kêu gọi tuyên bố chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa qua internet hôm 10/6/2011. AFP photo
Hệ thống blogs và mạng xã hội đã tạo nên hai tiền đề cho sự tham gia chính trị của dân chúng. Thứ nhất là sự tiếp cận thông tin. Thứ hai là sự mất kiểm soát của bộ máy cai trị trên một không gian điện tử mênh mông không biên giới.
Vài năm trước, trang mạng Bauxite Việt Nam với mục đích phản biện dự án Bauxite ở Tây Nguyên của nhiều nhân sĩ trí thức được thành lập. Trang mạng này tồn tại tới ngày nay và là nơi xuất phát của nhiều hành động chính trị của công dân Việt Nam. Chính nơi đây là nơi khởi phát kiến nghị 72 yêu cầu xóa bỏ điều 4 qui định sự độc tôn chính trị của đảng cộng sản trong nền chính trị Việt Nam.
Trang nhật ký điện tử của giáo sự toán học Ngô Bảo Châu thì dấy lên những ý kiến chính trị của công dân trong mục Cùng viết Hiến pháp.
Sự tham gia chính trị của những công dân tiếp cận với công nghệ thông tin càng dấy lên mạnh mẽ hơn khi xuất hiện liên tục các kiến nghị đòi cải tổ chính trị, và gần đây nhất là kiến nghị 258 cùng sự phản đối kiến nghị này như đã đề cập ở phần đầu.
Ý thức tham gia chính trị đã rõ ràng nơi các công dân.
Công dân trẻ tuổi Nguyễn Nữ Phương Dung nói về kiến nghị 258, “Chuyện chúng tôi làm là bình thường để góp phần làm thay đổi xã hội Việt Nam.”
Ý thức về sự tham gia chính trị, làm nhiều công dân vượt qua nỗi sợ hãi trước kia áp đặt bởi nền chuyên chính. Một công dân trẻ tuổi khác là Thảo Chi, sau chuyến đi Bangkok trao kiến nghị 258 cho Ủy ban nhân quyền Liên hiệp quốc đã nói về hoạt động của mình sau chuyến đi, “Chúng tôi làm tất cả đều công khai, chúng tôi không có gì lo ngại, chúng tôi không làm trái pháp luật, có thể là sẽ bị phiền nhiễu đôi chút.”

Chúng tôi làm tất cả đều công khai, chúng tôi không có gì lo ngại, chúng tôi không làm trái pháp luật, có thể là sẽ bị phiền nhiễu đôi chút.
- Blogger Thảo Chi
Nếu sự tham gia chính trị đó là rất rõ ràng nơi các công dân tiếp xúc với công nghệ thông tin, thì nó vẫn còn e ngại, không rõ ràng nơi tầng lớp đông đảo của xã hội Việt Nam là những người nông dân.
Dưới chính sách đất đai sở hữu toàn dân, hàng ngàn nông dân bị mất đất đã và đang biểu tình khắp nơi để đòi lại của cải của mình. Đây chính là những hành động chính trị, dù người nông dân không ý thức rõ ràng về chuyện ấy. Có lẽ một trong những nguyên nhân của sự không ý thức rõ ràng ấy chính là sự không tiếp cận với công nghệ thông tin của tuyệt đại đa số nông dân Việt Nam, cùng với hệ thống kiểm soát của đảng cộng sản ở thôn quê vẫn hữu hiệu hơn, nơi cuộc sống kém năng động hơn, tĩnh tại hơn, dễ kiềm chế hơn. Một nông dân nói với chúng tôi về sự e ngại những vấn đề chính trị:
“Khi đưa những thông mình của mình lên thì nên giấu tên đi nhé vì nó mang tính chính trị. Mình muốn tham gia câu chuyện một cách dân dã thôi vì mình không hiểu chính trị, mình không được học luật. Nhưng mà đôi khi bức xúc lên (cười) thì cũng chiến luôn, máu lắm (cười).”
Và thực sự là những người nông dân đã …chiến luôn… trong những xung đột xã hội vừa qua. Tiếng súng hoa cải Đoàn văn Vươn, tiếng súng lục Đặng Ngọc Viết, đều xảy ra ở môi trường nông thôn.
Để tạo nên một xã hội văn minh như đảng cộng sản vẫn hằng công bố, có phải chăng là nên dành chổ để đối thoại nhiều hơn ở nghị trường, hơn là những tiếng súng ở chiến trường như Tiên Lãng và Thái Bình? Phải chăng là cần sự tham gia chính trị nhiều hơn nữa của dân chúng
?
Posted by AnhHaiSG at 01:18 Gửi email bài đăng này

Tuesday, September 17, 2013

COC mịt mù khói sóng Biển Đông...



Tình hình Biển Đông:

COC mịt mù khói sóng Biển Đông, Philippines cầu ngoại viện

(Tin tức 24h) – Những diễn biến từ bàn đàm phán giữa ASEAN- Trung Quốc ở Tô Châu vênh so thực địa, thực tâm. Sự trái ngược đang chứng tỏ tương lai cho COC vẫn rất mịt mù dù ASEAN đã nỗ lực hết sức có thể.
Trung Quốc không mong muốn COC
 
Khác với phát biểu hôm 10/9, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Hồng Lỗi lên tiếng sẵn lòng trao đổi về vấn đề thực hiện nghiêm túc DOC và tiến tới bộ Quy tắc ứng xử Biển Đông (COC) với ASEAN, trong cuộc hội đàm 2 ngày tại Tô Châu, quốc gia này vẫn bày tỏ quan điểm trì hoãn.
 
Hai phía đã đi vào thảo luận chi tiết của COC, sau đó chuyển kết quả phiên thảo luận lên các quan chức cấp cao của hai bên để xem xét và thông qua trong ngày thứ hai.
 
Hội nghị ASEAN-Trung Quốc ở Tô Châu thống nhất "tiếp tục thực hiện đầy đủ và hiệu quả" Tuyên bố chung giữa các bên liên quan về Biển Đông (DOC) và giao cho một nhóm công tác chung hỗ trợ các quan chức trong tiến trình trao đổi xây dựng COC. Tuy nhiên không có thời gian biểu nào được đưa ra.
 
Quan chức ASEAN và Trung Quốc chụp ảnh lưu niệm. Đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Ngoại giao Phạm Quang Vinh dẫn đầu (Ảnh: Xuân Dần)
Quan chức ASEAN và Trung Quốc chụp ảnh lưu niệm. Đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Ngoại giao Phạm Quang Vinh dẫn đầu (Ảnh: Xuân Dần)

Tuy Trung Quốc không phản đối việc xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử Biển Đông (COC), nhưng vẫn giữ nguyên lập trường “Vấn đề lãnh thổ phải được giải quyết thông qua đàm phán song phương. Việc xây dựng COC cần phải thận trọng”.
 
Lập trường đàm phán song phương và giải quyết COC “dần dần” của Trung Quốc hoàn toàn trái ngược với quan điểm của ASEAN khi yêu cầu một thỏa thuận bình đẳng minh bạch giữa các nước trong khu vực với Trung Quốc, bao gồm cả những quốc gia có tranh chấp lãnh thổ và không tranh chấp.
 
Với lập trường này của Trung Quốc, ASEAN cho rằng Trung Quốc vẫn đang trì hoãn việc xây dựng COC thêm một lần nữa.
 
Trung Quốc vẫn ngắm vào Philippines
 
Song song với những diễn biến trên bàn đàm phán, giới truyền thông Trung Quốc cũng đăng tải hàng loạt bài báo chỉ trích Philippines, thể hiện thái độ đơn phương nhằm vào các quốc gia riêng lẻ trong khối.
 
Tờ China Daily của nhà nước Trung Quốc hôm 16/9 cáo buộc Manila là tìm cách làm "gián đoạn tham vấn ASEAN-Trung Quốc".
 
Trong bài xã luận đăng hôm 16/9, China Daily viết: "Lập trường thiếu trách nhiệm của Manila sẽ chỉ khiến Philippines ngày càng bị cô lập trong khu vực vì xu hướng không thể đảo ngược hiện nay là tìm kiếm giải pháp phù hợp cho tranh chấp Nam Hải (Biển Đông) thông qua tham vấn và hợp tác song phương".
 
Hội nghị ASEAN +3 (ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản) lần thứ 14 diễn ra tại thủ đô Bandar Seri Begawan của Brunei tháng 6/2013. Tại hội nghị này, Trung Quốc đồng ý bắt đầu tiến hành các cuộc đàm phán về COC.
Hội nghị ASEAN +3 (ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản) lần thứ 14 diễn ra tại thủ đô Bandar Seri Begawan của Brunei tháng 6/2013. Tại hội nghị này, Trung Quốc đồng ý bắt đầu tiến hành các cuộc đàm phán về COC.

Thông điệp được China Daily đúng như nhận định của ông James Clad, trợ lý của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ. Trước khi phiên họp diễn ra, ông James Clad đã nhận định: “Sẽ không có một chuyển biến nào trong phiên họp lần này giữa ASEAN và Trung Quốc. Bởi lẽ, Trung Quốc không hề muốn có COC, đồng thời, bản thân các quốc gia ASEAN cũng không đồng thuận mục tiêu”.
 
“Campuchia đã thẳng thắn bày tỏ quan điểm ủng hộ Trung Quốc, như vậy là đi ngược với cả khối. Trong khi đó, quan điểm cứng rắn của Philippines không nhận được sự ủng hộ của một số quốc gia không có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc. Đồng thời, Singapore, Indonesia vẫn giữ quan điểm trung lập, nhiều quốc gia có lợi ích và không có tranh chấp không muốn mối quan hệ của khu vực trở lên căng thẳng với Trung Quốc. Từ những bất đồng này, Trung Quốc hoàn toàn có thể tách riêng và cô lập ASEAN thành từng phần nhỏ”.
 
Cũng trong ngày 16/9, các phương tiện truyền thông Trung Quốc cũng lên tiếng chỉ trích mọi diễn tiến trên bàn đàm phán COC đều bị Philippines phá rối. Báo chí nước này cũng thẳng thừng khẳng định Scaborough là của Trung Quốc và Philippines là kẻ “vừa ăn cướp vừa la làng”.
 
Tuy trên bàn đàm phán, hai bên ASEAN và Trung Quốc đã bước đầu có thêm một số thành tựu như khẳng định tiếp tục thực hiện DOC, lập đoàn công tác hỗ trợ quan chức cấp cao các bên về COC… nhưng trên thực tế, những gì diễn ra bên ngoài bàn đàm phán khiến cho tương lai về một Biển Đông an ninh, hợp tác, hòa bình còn rất xa vời.
 
Philippines tiếp tục gồng mình cầu ngoại viện
 
Sau cuộc đàm phán tại Tô Châu, như thường lệ, Philippines lại hứng chịu búa rìu của truyền thông Trung Quốc. Một động thái mới nhất của Philippines, nước này đã thuê Pháp tham gia đóng mới tàu tuần tra cỡ lớn và sửa chữa những tàu chiến cũ kỹ của mình. Philippines cũng mua lại những tàu chiến vừa ra khỏi biên chế của Pháp.
 
Tàu tuần tra lớp P400 của hải quân Pháp.
Tàu tuần tra lớp P400 của hải quân Pháp.

Cụ thể, chiếc tàu đầu tiên Pháp sẽ bàn giao cho Philippines năm 2014 là tàu tuần tra lớp P400 đã có 26 năm tuổi,  mới rời khỏi biên chế phục vụ. Tàu có độ đài 54,8 mét, nặng 373 tấn và một thủy thủ đoàn 29 thành viên kèm theo 2 xuồng nhỏ. P400 có tốc độ tối đa 44 km/giờ và được trang bị một pháo tự động 40 mm, một pháo tự động 20 mm, 2 súng máy và một số vũ khí hạng nhẹ.
 
Đồng thời Philippines cũng quyết định thuê Pháp đóng mới 1 tàu tuần tra dài 82 mét và 4 tàu nhỏ dài 24 mét với giá 120 triệu USD. Các tàu lớn hơn sẽ được sử dụng để đối phó với tàu Trung Quốc đang hoạt động bất hợp pháp ngoài khơi bờ biển các nước láng giềng ở Biển Đông.
 
Trước đó, Philippines đã được sự hỗ trợ từ Nhật với 10 tàu tuần tra hiện đại, mua của Mỹ tàu chiến Hamilton, liên lạc với hải quân Tây Ban Nha về những hợp đồng vũ khí quy mô. Và nay đến với Pháp. Có vẻ như, Philippines đang tìm mọi nguồn vũ khí chất lượng cao giá rẻ để trang bị sức mạnh cho bản thân mình.
 
Sâu xa hơn, có thể Philippines đang muốn có nhiều quốc gia trên thế giới hiện diện lợi ích ở Biển Đông để tính quốc tế của vùng biển này được nhân rộng, để thói quen tự tung tự tác của Trung Quốc phải chùn tay.
 
Minh Tú (Tổng hợp)
;
 

Wednesday, September 11, 2013

Nhiều dòng gởi anh Ngô Đa

Nhiều dòng gởi anh Ngô Đa

Nguyễn T Bình

Mở đầu, xin tự giới thiệu với anh, tôi dân Sài Gòn trước 1975, từng ngồi ghế giảng đường đại học Văn khoa. Do đó, tôi khá tường tận phong trào SVHS Sài Gòn và một số đô thị miền Nam trước 1975, nếu không nói tôi từng là thành viên trong số đông thành viên “không giấy chứng nhận” của phong trào này. Trung thực mà viết, đối với phong trào SVHS, cũng như đối với lực lượng đàn áp phong trào SVHS, tên anh không nổi như các anh Lê Hiếu Đằng, Huỳnh Tấn Mẫm, Hạ Đình Nguyên, Lê Văn Nuôi và một số anh/chị khác. Tôi viết như vậy vì trên bình diện công khai phong trào SVHS nói chung chỉ có “thủ lĩnh”, không có “thủ trưởng”. Mọi hình thái tập hợp và hành động đều gần như “thanh thiên bạch nhật” trong trường học, trên đường phố dưới hình thức chủ yếu biểu tình và dĩ nhiên các “thủ lĩnh” luôn luôn có mặt ở vị trí hàng đầu vô cùng nguy hiểm, nhưng đó là yêu cầu không thể thiếu đối với người “thủ lĩnh”.
Gần 40 năm đã trôi qua với biết bao phận đời đổi thay cùng vận rủi của đất nước, dân tộc tới mức khiến đầu óc nhiều người không còn muốn nhắc quá khứ, cũng như không còn muốn nghĩ đến hiện tại và tương lai. Bởi, niềm thất vọng lớn quá, sự bế tắc khủng khiếp quá. Dù vậy, khi bất chợt đọc được bài viết “Xin hãy quay lại” ký tên anh đăng trên Tuổi Trẻ ngày 11/9, lòng tôi vẫn bồi hồi, hai mắt bổng đầy nước, cay cay. Vì, trong bài viết đó, anh đã nhắc đến phong trào SVHS mà tôi từng có nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Dù nội dung và mục đích chính bài viết này nhằm “thuyết phục” anh Lê Hiếu Đằng “quay về” sau khi anh Đằng đã trở thành Kinh Kha lần thứ hai, chỉ khác ở chổ khi trở thành Kinh Kha lần thứ nhất với bản án “tử hình vắng mặt” anh Đằng còn rất trẻ và khi trở thành Kinh Kha lần thứ hai anh ấy đã vào tuổi “xưa nay hiếm” nhưng vẫn gan dạ khó ai bằng. Tôi thương mến và quí trọng anh Lê Hiếu Đằng. Bởi, nói cách nào đó, ở cả hai thời đoạn tuổi trẻ và tuổi già, anh đều suy nghĩ và hành động đúng yêu cầu đối với một “thủ lĩnh” của ngày xưa cũng như của ngày nay.
Thưa anh Ngô Đa, tôi rất tiếc trong bài viết “Xin hãy quay lại” anh không nhấn mạnh mục tiêu của phong trào SVHS Sài Gòn và các đô thị miền Nam trước 1975 là “chống chiến tranh, đòi hòa bình”. Đây là mục tiêu công khai và là mục tiêu duy nhất đã tập hợp được đông đảo SVHS vào thời điểm đó. Có thể nói thêm, mục tiêu này cũng là niềm mong muốn, nỗi khát khao của số đông đồng bào Sài Gòn và miền Nam bấy giờ. Nhờ vậy, nhờ công khai mục tiêu “chống chiến tranh, đòi hỏi hòa bình”, phong trào SVHS đã lôi cuốn đông đảo tuổi trẻ trong và ngoài trường học cùng nhau tham gia, bất chấp thành phần lý lịch, gia đình. Và cũng nhờ vậy đã xuất hiện rất nhiều “Bà Mẹ Bàn Cờ”, bằng cách này, cách khác hết lòng hết dạ cưu mang, đùm bọc “đám trẻ phong trào SVHS”. Đúng vậy không anh Ngô Đa ?
Tôi tin điều tôi muốn anh nhấn mạnh như nêu ở trên cũng là điều số đông anh chị em từng trực tiếp hay gián tiếp tham gia, ủng hộ, hưởng ứng phong trào SVHS Sài Gòn và các đô thị miền Nam mong muốn. Ai ngộ nhận hoặc nói sai, viết sai về mục tiêu, tính chất phong trào này là không đàng hoàng, trung thực. Hết chiến tranh, hòa bình lập lại, đương nhiên phong trào SVHS chỉ còn là kỷ niệm trong ký ức cuộc đời nhiều người và đó mãi mãi là kỷ niệm đẹp. Dù nghe nói trong “tổng kết thắng lợi” người ta không đánh giá đúng mức tầm ảnh hưởng quan trọng của “mũi tiến công chính trị ở Sài Gòn và các đô thị miền Nam” – trong đó có phong trào SVHS. Tôi cũng như rất nhiều anh chị em từng tham gia phong trào không (thèm) suy nghĩ, đoái hoài gì về sự đánh giá này. Bởi lẽ, về chính thức, phong trào SVHS không phải là một hình thái hoạt động của bất cứ tổ chức chính trị đảng phái xã hội nào, dù trong bí mật có sự giật dây của một số VC nằm vùng, nhưng lúc bấy giờ các vị này bố bảo cũng không dám hé lộ ra, trước tiên là vì các vị thuộc thiểu số nhỏ nhoi so với hàng trăm ngàn SVHS thuần túy tự nguyện tự giác tham gia “chống chiến tranh, đòi hòa bình”. Nếu lúc đó số đông anh chị em tham gia phong trào biết có sự trà trộn, giật dây của VC chắc chắn phong trào xẹp ngay. Chống chiến tranh, đòi hòa bình là nguyện vọng chính đáng, đương nhiên của mọi người Việt Nam lương thiện, chứ không riêng gì tuổi trẻ Sài Gòn và các đô thị miền Nam trước 1975. Có thể xem phong trào SVHS là một hình thái biểu lộ công khai tấm lòng “yêu nước thương nòi” đơn thuần của tuổi trẻ miền Nam trước 1975. Chứ không thể úp bộ phong trào này là “phong trào hành động cách mạng gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Cái nào ra cái đó, phải không anh Ngô Đa ?
Tôi xin kể anh nghe một chuyện. Tôi có thằng bạn cùng tham gia phong trào SVHS rất tích cực, vô tư. Tốt nghiệp đại học không hiểu sao nó bị bắt quân dịch, làm phi công máy bay trinh sát L19. Hòa bình lập lại, nó bị bắt đi học tập cải tạo mấy năm, rồi sau đó qua Mỹ định cư theo chương trình HO. Năm 1997 tôi gặp lại nó tại Mỹ. Nó kể: “Hồi đi lính, tao bị tụi an ninh quân đội lục vấn hoài, tụi nó hỏi tao trước đây có tham gia phong trào SVHS không. Tao biết tụi nó đã nắm tin rồi, nên tao trả lời có, tụi nó hỏi tiếp vậy tao là Vi Xi phải không, tao trả lời không phải. Tụi nó buộc tao chứng minh, tao nói trong lý lịch tao đã khai rõ ba tao là sĩ quan cảnh sát đặc biệt không đội trời chung với Vi Xi, tụi nó hỏi ngược lại vậy tại sao tao tham gia phong trào SVHS, tao trả lời vì tao không muốn chiến tranh chỉ muốn hòa bình. Tụi nó nói hòa bình đâu dễ vãn hồi khi Vi Xi quyết đánh tới cùng dù phải đốt cháy dãy Trường Sơn và dù Hà Nội, Hải Phòng thành tro bụi cũng phải đánh để chiếm cho bằng được miền Nam, biến miền Nam giống như miền Bắc dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của cộng sản khổ sở tinh thần thể xác ghê gớm lắm. Mà thiệt là vậy phải không mậy? Sau 30/4/ 1975 tao hết còn muốn sống, nghĩ gì làm gì cũng bị khống chế nghĩ và làm theo ý của đảng. Mà đảng theo tao thấy chỉ luôn miệng nói yêu nước chứ thực tế đâu có thương nòi. Mầy còn nhớ không, hồi nhỏ tụi mình thường được cha mẹ, thầy cô dạy “yêu nước thương nòi” phải đi đôi với nhau, bây giờ đảng dạy “yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội”, tao nghe chướng tai muốn chửi thề, yêu nước mà không thương nòi, cứ bắt chước thủ đoạn nham hiểm của ngoại bang kích động, xúi dục nòi giống hằn thù nhau, đấu tố nhau, đấu tranh giai cấp với nhau, tước đoạt tài sản mồ hôi nước mắt của đồng bào mình theo thói ganh ăn ghét ở rất đê tiện, rồi sau đó sắc phong chung cho tất cả đều có vai trò, trách nhiệm “làm chủ” dưới sự “lãnh đạo” của đảng và sự “quản lý” của nhà nước trực thuộc đảng, thế thì còn cái mẹ gì nữa quyền làm người, quyền tự do dân chủ vốn dĩ là những quyền cơ bản của nhân loại trên trái đất này…”. Thằng bạn phong trào SVHS của tôi đã nói thật nói thẳng vậy đó anh Ngô Đa. Mong anh chịu khó ngược dòng thời sự 38 năm qua để kiểm chứng sự thật đúng sai, cũng như để anh khỏi hoài nghi tôi đã mượn mồm bạn tôi phun ra nỗi niềm của mình – giống như thói quen của tầng lớp cán bộ cầm quyền đương thời đã lạm dụng dài dài, thường xuyên hai chữ “nhân dân”. Sự lạm dụng có chủ đích này nếu suy nghĩ cho kỹ sẽ thấy bất lợi cho cả hai phía, chứ không phải một phía – nhân dân – đâu anh Ngô Đa.
Thưa anh Ngô Đa, đọc những dòng anh viết gởi anh Lê Hiếu Đằng, tôi cảm nhận được hai điều nơi anh. Thứ nhất, anh là người sống có niềm tin vào lý tưởng đã chọn từ khi xuất hiện trong phong trào SVHS “chống chiến tranh, đòi hòa bình”. Thứ hai, anh là người có sức chịu đựng bất chấp thực tế đã và đang diễn ra bất lợi cho dân cho nước mình. Xin cho phép tôi đưa ra nhận định ở đây, có lẽ ở điểm thứ nhất, anh không khác gì anh Lê Hiếu Đằng. Nhưng ở điểm thứ hai thì anh hoàn toàn khác anh Lê Hiếu Đằng. Vì vậy, chưa biết ai phải nói với ai câu “Xin hãy quay lại” cho đúng lẽ đời và đạo lý công dân “yêu nước phải thương nòi”. Nòi là nòi giống, đồng bào – những người “chung bào thai” với mình đó anh Ngô Đa. Chúng ta đã từng công khai “chống chiến tranh, đòi hòa bình” cho đất nước một cách quyết liệt. Vậy, xin hỏi anh Ngô Đa, tại sao giờ đây anh lại chủ trương hãy “từ từ” trong giải quyết biết bao bất công, khổ nạn làm cho đồng bào mình điêu linh, đất nước mình lâm nguy? Tại sao không thể quyết liệt? Trong khi ai cũng biết sau khi làm cho miền Nam sau 1975 tiêu điều xơ xác như miền Bắc sau 1954, đảng buộc phải “đổi mới”, nhưng chỉ “đổi mới” kinh tế mà thôi, vì vậy tham nhũng đã nhanh chóng nảy sinh tưng bừng gốc ngọn hoa lá cành, hút sạch sinh lực đất nước và nội lực trong dân suốt 27 năm “đổi mới”, năm sau hút bạo hơn năm trước theo đà tăng trưởng GDP. Tất cả sự tham nhũng đều trong hệ thống lãnh đạo và quản lý đất nước, chứ không phải trong dân. Do đó càng cần quyết liệt hơn cả khi phong trào SVHS quyết liệt “chống chiến tranh, đòi hòa bình” mới đúng chứ anh Ngô Đa. Ba mươi tám năm rồi, đâu phải ngắn ngủi gì cho cam, mọi ảo vọng và thử nghiệm chính trị đều cần nên kết thúc và sự kết thúc này nếu được diễn ra, cũng như diễn ra được trong tình đồng bào thì rất tốt.
Anh có mong vậy không anh Ngô Đa ? Chắc anh hiểu ở bất cứ thời nào và dưới bất cứ triều đại nào, “quan” bao giờ cũng nhất thời, chỉ có “dân” vạn đại mà thôi. Con đường anh đang đi để viết ra bài “Xin hãy quay lại” là con đường của “quan”. Con đường anh Lê Hiếu Đằng đang đi là con đường của dân. Khác nhau hoàn toàn, xét cả bề rộng lẫn chiều sâu. Nói gọn, anh đã chọn cái “nhất thời”, anh Lê Hiếu Đằng đã chọn cái “vạn đại”. Đánh giá sự khác biệt này trong ý thức bắt buộc yêu nước phải thương nòi, tôi nhận ra tuy cùng điểm xuất phát, cùng quê nhà, cùng tổ chức, cùng là đồng sự, đồng nghiệp bao năm với nhau, nhưng anh Lê Hiếu Đằng “giác ngộ” hơn anh rất nhiều anh Ngô Đa ạ. Vì vậy, trước khi tạm kết thúc bài viết “Nhiều dòng gởi anh Ngô Đa”, tôi xin mượn tựa bài viết “Xin hãy quay lại” của anh để nói thật cụ thể với anh như vầy: Anh Ngô Đa ơi, hãy quay về với nhân dân!

N. T. B.

“Một thước núi, một tấc sông của ta lẽ nào tự nhiên vứt bỏ đi được … kẻ nào dám đem một thước núi sông, một tấc đất biên ải của tổ tiên để lại làm mồi cho giặc thì kẻ ấy sẽ bị tru di…!”

“Một thước núi, một tấc sông của ta lẽ nào tự nhiên vứt bỏ đi được … kẻ nào dám đem một thước núi sông, một tấc đất biên ải của tổ tiên để lại làm mồi cho giặc thì kẻ ấy sẽ bị tru di…!”
Lê Thánh Tôn
(Đại việt sử ký toàn thư)